Phần 17

Đức-Bồ-Tát Thái-Tử Temiya Xuất Gia

Sau khi người đánh xe Sunanda trở lại kinh-thành Bārānasī, Đức-Bồ-tát Thái-tử Temiya quyết định xuất gia trở thành đạo-sĩ. Khi ấy, Đức-vua trời Sakka thấy rõ, biết rõ ý nguyện của Đức-Bồ-tát Thái-tử Temiya, cho nên, truyền gọi vị thiên-nam Vissakamma đến truyền bảo rằng:

Này Vissakamma! Đức-Bồ-tát Thái-tử Temiya có ý nguyện xuất gia trở thành đạo-sĩ.

Vậy, ngươi hãy hiện xuống cõi người, tại nơi khu rừng ấy, hóa ra một cốc lá và các thứ vật dụng cần thiết của bậc đạo-sĩ, xong ngươi hãy ghi dòng chữ để lại.

Tuân theo lệnh Đức-vua trời Sakka, vị thiên-nam Vissakamma hiện xuống cõi người, đến tại khu rừng ấy, hoá ra một cốc lá thuận lợi cho đời sống của đạo-sĩ, hóa ra những thứ vật dụng cần thiết như y phục, đồ dùng,… đối với bậc xuất-gia Đạo-sĩ, rồi ghi dòng chữ để lại:

“Bậc nào có ý nguyện muốn xuất gia trở thành đạo-sĩ, kính mời bậc ấy được phép sử dụng những thứ vật dụng cần thiết này, để xuất gia trở thành đạo-sĩ.”

Và chỗ nghỉ ban đêm, chỗ nghỉ ban ngày, đường đi kinh hành, hồ nước lớn, phạm vi xung quanh 3 do tuần, có các loại cây thay nhau có quả quanh năm, đồng thời đuổi các loài thú dữ ra khỏi khu rừng ấy, để giữ gìn sự an toàn và thanh-tịnh cho Đức-Bồ-tát đạo-sĩ Temiya.

Đức-Bồ-tát Thái-tử Temiya nhìn thấy cốc lá có để lại dòng chữ, Đức-Bồ-tát tự đoán biết rằng:

“Đức-vua trời Sakka đã truyền cho vị thiên-nam Vissukamma hoá ra những thứ vật dụng cần thiết này cho ta, để xuất gia trở thành đạo-sĩ.”

Đức-Bồ-tát Thái-tử Temiya cởi y phục chư-thiên ra, rồi mặc y phục đạo-sĩ vào, sử dụng những thứ vật dụng của vị đạo-sĩ. Khi ấy, Đức-Bồ-tát đã trở thành Đức-Bồ-tát đạo-sĩ Temiya, Đức-Bồ-tát đạo-sĩ ra khỏi cốc lá, đi kinh hành tới lui trên con đường kinh hành, Đức-Bồ-tát đạo-sĩ vô cùng hoan hỷ thốt lên rằng:

Thật là hạnh phúc an-lạc!

Đức-Bồ-tát đạo-sĩ đi vào trong cốc lá, ngồi thực-hành pháp-hành thiền-định, dẫn đến chứng đắc 5 bậc thiền sắc-giới và đắc 5 phép-thần-thông: đa-dạng-thông, nhãn-thông, nhĩ-thông, tha-tâm-thông, tiền-kiếp-thông.

Hằng ngày, Đức-Bồ-tát đạo-sĩ đi vào rừng tìm các thứ trái cây, các thứ lá cây đem về nấu chín, rồi dùng, thưởng thức hương vị ngon như hương vị của chư-thiên, thực-hành pháp-hành thiền-định đề mục tứ vô-lượng-tâm rải đến tất cả chúng-sinh muôn loài, cầu mong tất cả chúng-sinh đều được thân tâm thường an-lạc.

Tổ Chức Lễ Diện Kiến Thái-Tử Temiya

Tại cung điện, Đức-vua Kāsirājā nghe người đánh xe Sunanda tâu trình tất cả những điều đã nghe, đã thấy, đã tiếp xúc với Thái-tử Temiya. Cho nên, Đức-vua muốn ngự đến khu rừng ấy, để diện kiến Thái-tử Temiya. Đức-vua truyền lệnh gọi vị quan Thừa-tướng và các quan đến hội triều. Đức-vua truyền rằng:

Này các khanh! Các khanh hãy mau chuẩn bị các đoàn binh, các đội nhạc, thông báo đến các bà cung phi, các người trong hoàng tộc, các Bà-la-môn, các phú hộ, dân chúng trong kinh-thành, dân chúng các tỉnh thành, tất cả phải sẵn sàng đi theo Trẫm ngự vào khu rừng, để diện kiến Thái-tử Temiya, làm lễ đăng quang Thái-tử Temiya lên ngôi vua, rồi rước trở về cung điện.

Sau đó không lâu, các đội binh gồm: tượng binh, mã binh, binh xa, bộ binh, … các đội nhạc triều đình đều chuẩn bị sẵn sàng, xe ngựa chở Chánh-cung Hoàng-hậu Candādevī, các xe ngựa của các bà cung phi, các người trong hoàng tộc, các quan trong triều đình, dân chúng trong kinh-thành, trong các tỉnh thành, … đều chuẩn bị sẵn sàng. Đức-vua Kāsirājā ngự trên xe ngựa báu, theo sau là con bạch tượng chở các lễ vật, để làm lễ đăng quang Thái-tử Temiya lên ngôi vua. Đức-vua truyền lệnh cho người đánh xe Sunanda dẫn đường đến khu rừng, chỗ ở của Thái-tử Temiya.

Nhìn thấy Đức-vua Kāsirājā cùng với đoàn hộ giá hùng hậu đang ngự đến, Đức-Bồ-tát đạo-sĩ Temiya ra đón rước, kính thỉnh Đức-Phụ-vương ngự vào cốc lá, rồi Tâu rằng:

Muôn tâu Đức-Phụ-vương, Đức-Phụ-vương được khoẻ mạnh, không bệnh hoạn và Mẫu-hậu của bần đạo cũng khoẻ mạnh, không bệnh hoạn phải không?

Này Temiya, hoàng nhi yêu quý! Phụ-vương được khoẻ mạnh, không bệnh hoạn và Mẫu-hậu của con cũng được khoẻ mạnh, không bệnh hoạn.

Muôn tâu Đức-Phụ-vương, Đức-Phụ-vương không uống nước Caṇḍa (chất say), tâm của Đức-Phụ-vương vẫn thoả thích trong pháp chân thật, thực-hành nghiêm chỉnh 10 pháp của Đức-vua có phải không?

Này Temiya, hoàng nhi yêu quý! Phụ-vương không uống nước Caṇḍa (chất say), tâm của Đức-Phụ-vương vẫn thoả thích trong pháp chân thật, thực-hành nghiêm chỉnh 10 pháp của Đức-vua.

Tâu Đức-Phụ-vương, từ kinh-thành cho đến các vùng biên giới trên toàn lãnh thổ đất nước của Đức-Phụ-vương, toàn thể thần dân thiên hạ đều được sống an lành thịnh vượng phải không?

Này Temiya, hoàng nhi yêu quý! Từ kinh-thành cho đến các vùng biên giới trên toàn lãnh thổ đất nước của Phụ-vương, toàn thể thần dân thiên hạ đều được sống an lành thịnh vượng cả thảy.

Tâu Đức-Phụ-vương, Đức-Phụ-vương đã ngự đến an lành. Kính mời Đức-Phụ-vương dùng thứ lá cây nấu chín này.

Nhìn thấy thứ lá cây nấu chín, Đức-vua Kāsirājā biết không thể nào dùng được, nhưng để làm hài lòng Thái-tử, nên Đức-vua lấy một ít thứ lá nấu chín ấy, để trên lòng bàn tay bèn truyền hỏi rằng:

Này Temiya, hoàng nhi yêu quý! Con dùng vật thực bằng thứ lá cây nấu chín như thế này được sao?

Tâu Đức-Phụ-vương, dạ được. Hằng ngày, con dùng vật thực bằng thứ lá cây được nấu chín hoặc những loại trái cây lớn nhỏ như vậy.

Khi ấy, Chánh-cung Hoàng-hậu Candādevī cùng với các cung-phi ngự đến, Đức-Bồ-tát đạo-sĩ xin phép ra đón rước Mẫu-hậu và các cung-phi, rồi mời vào cốc. Mẫu-hậu của Đức-Bồ-tát đạo-sĩ đến nắm đôi bàn chân của Đức-Bồ-tát đạo-sĩ, vì quá vui mừng gặp lại Thái-tử, không nén nổi xúc động, nên đôi dòng nước mắt giàn giụa, rồi ngồi một nơi hợp lẽ.

Đức-vua Kāsirājā cầm trong tay một ít lá cây nấu chín, trao cho Chánh-cung Hoàng-hậu Candādevī, rồi truyền bảo rằng:

Này ái-khanh Candādevī ! Thứ lá cây nấu chín này là món vật thực nuôi sống Thái-tử của ái-khanh.

Cầm ít lá cây được nấu chín ấy đưa lên mũi ngửi, Chánh-cung Hoàng-hậu Candādevī trao một ít lá cây chín ấy đến các cung-phi, mỗi bà đều đưa lên mũi ngửi, sau đó, đặt lên đầu của mình rồi tâu rằng:

Tâu Thái-tử, Đức đạo-sĩ cao thượng, Ngài đã làm một điều mà những người khác không một ai có thể làm được. Thật là phi thường!

Quý cung-phi cung kính đảnh lễ Đức-Bồ-tát đạo-sĩ, rồi ngồi một nơi hợp lẽ.

Khi ấy, Đức-vua Kāsirājā truyền bảo rằng:

Này Temiya, hoàng nhi yêu quý! Thật là một điều phi thường mà Phụ-vương chưa từng thấy!

Này Temiya, hoàng nhi yêu quý! Con sống trong rừng một mình, hằng ngày, dùng vật thực như vậy, do nguyên nhân nào mà gương mặt của con trong sáng lạ thường, nước da con có màu vàng óng ánh như vậy?

Đức-Bồ-tát đạo-sĩ tâu rằng:

Tâu Đức-Phụ-vương, bần đạo sống một mình trong rừng, vật thực ấy chỉ để duy trì sinh-mạng mà thôi. Bần đạo thực-hành pháp-hành thiền-định niệm rải tâm-từ vô lượng đến tất cả chúng-sinh, niệm rải tâm-bi vô lượng đến tất cả chúng-sinh, niệm rải tâm-hỷ vô lượng đến tất cả chúng-sinh, niệm rải tâm-xả vô lượng đến tất cả chúng-sinh, nên tâm được thanh-tịnh an-lạc.

Do nguyên nhân ấy, nên gương mặt của bần đạo được trong sáng, nước da có màu vàng óng ánh như vậy.

Tâu Đức-Phụ-vương, bần đạo không có khổ tâm đến những đối-tượng, những sự việc quá-khứ đã diệt rồi, bần đạo cũng không mong mỏi đến những đối-tượng, những sự việc vị-lai chưa sinh, bần đạo chỉ biết đối-tượng, việc đang hiện hữu trong hiện-tại mà thôi.

Do nguyên nhân ấy, nên gương mặt của bần đạo được trong sáng, da dẻ có màu vàng óng ánh như vậy.

Tâu Đức-Phụ-vương, trong đời này một số người si mê, bị nỗi khổ tâm làm dày vò, làm cho thể xác xanh xao, gầy guộc, bởi do nguyên nhân như sau:

* Do hoài tưởng đến những đối tượng, những sự việc quá-khứ đã diệt rồi.

* Do mong mỏi về những đối tượng, những sự việc vị-lai chưa sinh.

Do đó, số người ấy bị nỗi khổ tâm dày vò, làm cho thân xác xanh xao gầy guộc.

Lễ Đăng Quang Truyền Ngôi Báu Cho Thái-Tử

Đức-vua Kāsirājā nghĩ rằng:

“Ta sẽ làm lễ đăng quang truyền ngôi báu cho Thái-tử Temiya tại khu rừng này, rồi rước trở về kinh-thành Bārāṇasī.”

Đức-vua truyền bảo rằng:

Này Temiya, hoàng nhi yêu quý! Nay, Phụ-vương sẽ làm đại lễ đăng quang truyền ngôi báu cho con lên ngôi vua, tại khu rừng này, rồi rước con trở về ngự tại cung điện tại kinh-thành Bārāṇasī.

Phụ-vương giao các đội binh gồm: tượng binh, mã binh, binh xa, bộ binh, v.v… cùng các cung vàng điện ngọc cho con, giao các đoàn ca hát nhảy múa để làm cho con vui.

Phụ-vương sẽ tuyển chọn các công-chúa xinh đẹp đem về cho con tấn phong làm Chánh-cung Hoàng-hậu, để sinh ra nhiều hoàng-tử, công-chúa.

Nếu con muốn xuất gia thì hãy đợi khi đến lúc tuổi già. Hiện nay, con còn trẻ, đang thời niên thiếu, con nên lên ngôi vua trị vì đất nước Kāsiraṭṭha này, hưởng mọi sự an-lạc trong đời. Con sống trong rừng một mình, đời sống cực khổ có ích lợi gì đâu!

Nghe Đức-Phụ-vương truyền bảo như vậy, Đức-Bồ-tát đạo-sĩ Temiya thuyết giảng cho Đức-Phụ-vương rằng:

Tâu Đức-Phụ-vương,

Người còn trẻ nên thực-hành phạm-hạnh cao thượng.

Người thực-hành phạm-hạnh cao thượng khi còn trẻ.

Bậc xuất-gia thực-hành phạm-hạnh khi còn trẻ.

Chư bậc thiện-trí đều tán dương ca tụng.

Người còn trẻ thực-hành phạm-hạnh cao thượng.

Người thực-hành phạm-hạnh cao thượng khi còn trẻ.

Vì vậy, bần đạo không muốn lên ngôi làm vua.

Mà bần đạo chỉ muốn xuất gia mà thôi.

Bần đạo thấy những đứa trẻ gọi là công-tử, tiểu thư xinh đẹp trong gia đình, chưa đến lúc tuổi già thì đã chết trước mẹ cha của chúng.

Ví như mụt măng, chưa thành tre già đã bị bẻ gãy.

Sự thật, sự chết xảy đến với mọi người bất cứ lúc nào,

Cho nên, không một ai có thể tin chắc rằng:

“Ta còn trẻ chưa chết.”

Tuổi thọ con người ngắn ngủi, bởi vì ngày đêm trôi qua, giống như đàn cá trong hồ, nước cạn dần.

Sinh-mạng của các con trai, con gái còn trẻ,

Chẳng có gì là chắc chắn được đâu!

Tất cả chúng-sinh trong đời đều bị sát hại, bị tàn lụi, do những điều bất lợi đang hiện hữu mãi mãi.

Vậy, Đức-Phụ-vương làm lễ đăng quang cho bần đạo lên ngôi vua có ích lợi gì đâu?

Nghe Đức-Bồ-tát đạo-sĩ thuyết giảng như vậy, Đức-vua Kāsirājā có phần chưa hiểu nên hỏi lại rằng:

Này Temiya, hoàng nhi yêu quý! Phụ-vương chưa hiểu rõ những pháp mà con đã thuyết giảng, như:

* Tất cả chúng-sinh trong đời đều bị ai sát hại?

* Pháp gì làm tàn lụi thân này?

* Do những gì bất lợi đang hiện hữu mãi mãi?

Con nên giải thích cho Phụ-vương và mọi người hiểu rõ các pháp ấy.

Đức-Bồ-tát đạo-sĩ Temiya giải thích rằng:

Tâu Đức-Phụ-vương,

* Tất cả chúng-sinh bị tử thần theo sát hại.

* Sự già làm tàn lụi thân thể này.

* Do ngày và đêm trôi qua là những điều bất lợi đang hiện hữu mãi mãi. Nghĩa là hết ngày đến đêm, rồi hết đêm đến ngày, không ngừng, cứ tiếp diễn mãi mãi.

Kính xin Đức-Phụ-vương nên hiểu rõ như vậy.

Tâu Đức-Phụ-vương, như cuộn chỉ trong con thoi mà người thợ dệt đã dệt chạy qua chạy lại hao bao nhiêu, thì phần chỉ còn lại bị giảm bớt bấy nhiêu.

Cũng như vậy, tuổi thọ của con người mà ngày và đêm trôi qua lâu bao nhiêu, thì phần tuổi thọ còn lại bị giảm bớt dần bấy nhiêu cho đến hết tuổi thọ mỗi kiếp (gọi là chết).

Nước chảy xuôi theo dòng sông từ chỗ cao xuống chỗ thấp, không bao giờ nước chảy ngược dòng từ chỗ thấp lên chỗ cao.

Cũng như vậy, ngày và đêm trôi qua, con người càng ngày càng già, không bao giờ trở lại thời trẻ trung nữa.

Dòng sông chảy xiết làm cho những cây cỏ hai bên bờ trốc gốc trôi theo dòng nước.

Cũng như vậy, ngày và đêm trôi qua dẫn dắt tất cả chúng-sinh đến sự già, rồi cuối cùng đến sự chết đều như nhau cả thảy.

Lắng nghe lời Đức-Bồ-tát đạo-sĩ Temiya thuyết pháp giảng giải, Đức-vua Kāsirājā phát sinh đức-tin trong sạch, vô cùng hoan hỷ nghe lời dạy của Đức-Bồ-tát đạo-sĩ, nên Đức-vua nhận thức đúng đắn rằng:

“Đời sống của người tại gia có nhiều ràng buộc, tốt hơn ta không nên hồi cung trở lại kinh-thành Bārāṇasī, mà ta nên xuất gia trở thành đạo-sĩ tại khu rừng này.”

Đức-vua Kāsirājā suy nghĩ rằng:

“Nếu Temiya, hoàng nhi yêu quý của ta chịu trở về kinh-thành Bārāṇasī thì ta sẽ truyền ngôi báu cho Thái-tử trị vì đất nước Kāsiraṭṭha.”

Suy nghĩ xong, Đức-vua Kāsirājā lại khẩn khoản Đức-Bồ-tát đạo-sĩ rằng:

Này Temiya, hoàng nhi yêu quý! Nay, Phụ-vương sẽ làm đại lễ đăng quang truyền ngôi báu cho con lên ngôi vua, tại khu rừng này, rồi rước con trở về ngự tại cung điện trong kinh-thành Bārāṇasī.

Phụ-vương giao các đội binh gồm: tượng binh, mã binh, binh xa, bộ binh, v.v… cùng các cung vàng điện ngọc cho con, giao các đoàn ca hát nhảy múa để làm cho con vui.

Phụ-vương sẽ tuyển chọn các công-chúa xinh đẹp đem về cho con tấn phong làm Chánh-cung Hoàng-hậu, để sinh ra nhiều hoàng-tử, công-chúa.

Đức-Bồ-tát đạo-sĩ khẳng định không muốn ngôi báu, chỉ quyết tâm sống đời đạo-sĩ, nên tâu rằng:

Tâu Đức-Phụ-vương, Đức-Phụ-vương muốn bần đạo phải khổ tâm vì sự nghiệp đế vương, có ích lợi gì?

Đức-Phụ-vương muốn cho bần đạo khổ tâm vì Chánh-cung Hoàng-hậu, vì các hoàng-tử, các công-chúa, có ích lợi gì?

Con người còn trẻ cũng phải đến lúc già, rồi đến lúc chết. Đó là lúc kết thúc một kiếp người. Mọi người đã sinh ra trên đời, đều có sự già, sự chết là thường.

Tâu Đức-Phụ-vương, như vậy, Đức-Phụ-vương truyền ngôi báu lại cho bần đạo, có ích lợi gì?

Đức-Phụ-vương muốn bần đạo có Chánh-cung Hoàng-hậu, có các hoàng-tử, các công-chúa có ích lợi gì?

Tâu Đức-Phụ-vương, khi sự già, sự chết đến với bần đạo, thì sự nghiệp đế vương, Chánh-cung Hoàng-hậu, các hoàng-tử, các công-chúa giúp ích được gì cho bần đạo?

Tâu Đức-Phụ-vương, bần đạo đã thoát khỏi mọi ràng buộc ấy rồi, bần đạo thấy rõ tử thần luôn luôn đuổi theo sau bần đạo. Khi người ta biết rõ tử thần đuổi theo sát bên họ, thì họ còn muốn gì trong đời nữa?

Người ta ham muốn nhiều của cải, nhưng đôi khi của cải bỏ họ trước hoặc đôi khi họ chết trước bỏ lại của cải.

Những cây có quả, số quả rụng lúc còn non, số quả rụng lúc già. Chắc chắn mọi quả chín đều phải rụng cả.

Cũng như vậy, con người sinh ra trên đời, số người chết trong thời-kỳ thiếu niên, số người chết trong thời-kỳ trung niên, số người chết trong thời lão niên. Điều chắc chắn là ai cũng đều phải chết cả.

Có người vừa mới gặp nhau chuyện trò buổi sáng, đến buổi chiều thì nghe tin người ấy đã chết.

Có người vừa mới gặp nhau chuyện trò buổi chiều, đến sáng ngày hôm sau thì nghe tin người ấy đã chết, …

Các đoàn binh dù hùng mạnh đến đâu cũng không thể chiến thắng được tử thần.

Người ta không thể khống chế tử thần bằng phép mầu, bằng khí giới, bằng quyền lực, hoặc mua chuộc tử thần bằng ngọc ngà châu báu, …

Tử thần không buông tha một ai cả, dù là Đức-vua, các Bà-la-môn, các phú hộ, các lái buôn, các người làm công cho đến dân thường, … vẫn không có ai thoát khỏi tử thần.

Cho nên, mọi người chớ nên dể duôi, hãy nên cố gắng tinh-tấn tạo mọi phước-thiện, tạo mọi thiện-pháp ngay từ hôm nay. Có ai biết chắc được ngày mai mình chưa chết.

Không ai có khả năng khất hẹn với tử thần, dù trong khoảng thời gian ngắn ngủi nhất.

Tâu Đức-Phụ-vương, Đức-Phụ-vương nên bỏ ngai vàng điện ngọc, nên xuất gia trở thành đạo-sĩ, để làm nơi nương nhờ cho chính mình. Đó là lời thỉnh cầu của bần đạo, kính xin Đức-Phụ-vương suy xét kỹ.

Lắng nghe lời Đức-Bồ-tát đạo-sĩ thuyết giảng xong, Đức-Phụ-vương, Mẫu-hậu của Đức-Bồ-tát đạo-sĩ cùng với 16.000 cung-phi, các bà nhũ mẫu, các người trong hoàng tộc, các Bà-la-môn, các quan, các binh lính, dân chúng trong kinh-thành, dân chúng ngoại thành, … đều phát sinh đức-tin trong sạch nơi Đức-Bồ-tát đạo-sĩ Temiya. Tất cả đều quyết tâm xuất gia trở thành đạo-sĩ tại khu rừng ấy.

Sau khi quyết tâm như vậy, Đức-vua Kāsirājā truyền lệnh rằng:

Này các khanh! Các khanh hãy trở về lại kinh-thành Bārāṇasī, vào cung điện mở các kho báu, rồi ghi dòng chữ rằng: “Ai muốn thứ gì cứ tự tiện lấy thứ ấy.”

Các khanh hãy mở rộng các cửa cung điện, mở rộng 4 cửa thành, rồi thông báo cho toàn thể thần dân thiên hạ rằng:

“Nếu những người nào muốn xuất gia trở thành đạo-sĩ thì đều được phép xuất gia trở thành đạo-sĩ theo Thái-tử Temiya của Trẫm.”

Khi ấy, Đức-vua trời Sakka truyền lệnh vị thiên-nam Vissukamma hiện xuống cõi người, ngay tại khu rừng mà Đức-Bồ-tát đạo-sĩ Temiya đang trú ngụ, hoá ra đầy đủ các cốc lá và những thứ vật dụng cần thiết hằng ngày đối với các nam đạo-sĩ và các nữ đạo-sĩ trong đời sống của đạo-sĩ.

Đức-Bồ-tát đạo-sĩ Temiya sắp đặt các nữ đạo-sĩ ở các cốc giữa, còn các nam đạo-sĩ ở các cốc ở bên bìa rừng rộng lớn mà vị thiên-nam Vissakamma đã hoá ra. Đức-Bồ-tát đạo-sĩ Temiya ngự trên hư không thuyết pháp, giảng dạy. Tất cả các đạo-sĩ đều chứng đắc các bậc thiền sắc-giới thiện-tâm và các phép thần thông tuỳ theo năng lực ba-la-mật của mỗi vị.

Đức-Vua Xứ Khác Kéo Quân Đến Chiếm Thành

Nghe tin Đức-vua Kāsirājā bỏ kinh-thành Bārāṇasī đi vào rừng xuất gia trở thành đạo-sĩ, một Đức-vua xứ khác kéo quân đến kinh-thành Bārāṇasī, nhìn thấy 4 cửa thành đều được mở rộng, họ đi thẳng vào cung điện, thấy các cửa chính của cung điện cũng đều được mở, các kho báu cũng đều được mở cửa, để cho ai muốn lấy gì thì lấy. Đức-vua xứ khác thấy điều lạ thường, nên đi tìm người trong kinh-thành hỏi nguyên nhân nào mà xảy ra điều lạ thường ấy.

Một người dân trong kinh-thành Bārāṇasī tâu với Đức-vua ấy rằng:

Tâu Đại-vương, Thái-tử Temiya của Đức-vua Kāsi và Chánh-cung Hoàng-hậu Candādevī, không muốn lên ngôi báu làm vua, nên Thái-tử đã phát nguyện: không phải là gười bại liệt, làm như là người bại liệt, không phải là người điếc, làm như là người điếc, không phải là người câm, làm như là người câm.

Thái-tử Temiya chịu đựng mọi thử thách suốt 16 năm, mà không ai phát hiện ra được sự thật. Các vị Bà-la-môn xem tướng tâu dối lên Đức-vua Kāsirājā rằng:

“Thái-tử là người xui xẻo (kāḷakaṇṇī), sẽ có tai họa đến Đại-vương và ngai vàng.”

Vậy, Đại-vương nên truyền lệnh chở Thái-tử Temiya trên chiếc xe bất hạnh đưa ra khỏi cung điện, đem chôn Thái-tử Temiya ở trong rừng.

Tuân lệnh Đức-vua Kāsirājā, người đánh xe Sunanda chở Thái-tử Temiya ra khỏi kinh-thành Bārāṇasī, đến một khu rừng để chôn Thái-tử Temiya.

Khi ấy, Thái-tử Temiya là người được hoàn toàn tự do. Sự thật, Thái-tử Temiya có các tướng tốt của bậc đại nhân, không phải là người bại liệt, mà người có sức lực phi thường.

Thái-tử Temiya không phải người câm, mà là người có giọng nói hay, thuyết giảng các pháp sâu sắc.

Thái-tử Temiya không phải là người điếc, mà là người có khả năng nghe rõ, hiểu biết rõ hơn mọi người.

Thái-tử Temiya đã xuất gia trở thành đạo-sĩ Temiya.

Đức-vua Kāsirājā biết Thái-tử Temiya là người cao thượng như vậy, nên Đức-vua thân chinh dẫn các đoàn binh và đoàn hộ giá đông đảo đến khu rừng nơi ở của Thái-tử Temiya. Đức-vua Kāsirājā có ý định làm lễ đăng quang truyền ngôi báu cho Thái-tử Temiya lên ngôi vua, rồi rước trở về kinh-thành Bārāṇasī, trị vì đất nước Kāsiraṭṭha này, nhưng Đức-vua Kāsirājā không thuyết phục được Thái-tử Temiya lên ngôi vua, mà ngược lại Ngài Đạo-sĩ Temiya đã thuyết giảng pháp rất hay làm cho Đức-vua Kāsirājā cùng các đoàn hộ giá đông đảo có đức-tin trong sạch nơi vị đạo-sĩ Temiya, tất cả đều quyết tâm xuất gia trở thành đạo-sĩ theo Đạo-sĩ Temiya tại khu rừng ấy.

Nghe người dân trong kinh-thành thuật lại như vậy, Đức-vua xứ khác truyền hỏi người dân và biết được Đức-vua Kāsirājā đã ngự ra khỏi kinh-thành Bārāṇasī đi về hướng đông, nên Đức-vua xứ khác cũng ngự đi theo hướng đông tìm đến Đức-Bồ-tát đạo-sĩ Temiya.

Nghe Đức-Bồ-tát đạo-sĩ Temiya thuyết pháp, phát sinh đức-tin trong sạch nơi Đức-Bồ-tát đạo-sĩ, Đức-vua ấy cùng với các quan quân đều xin xuất gia trở thành đạo-sĩ theo Đức-Bồ-tát đạo-sĩ.

Tất cả các vị đạo-sĩ ấy thực-hành pháp-hành thiền-định đều chứng đắc các bậc thiền sắc-giới thiện-tâm và các pháp-thần-thông tuỳ theo năng lực ba-la-mật của mỗi vị đạo-sĩ.

Sau khi tất cả các vị nam đạo-sĩ, các nữ đạo-sĩ chết, sắc-giới thiện nghiệp cho quả tái-sinh kiếp sau hoá-sinh làm vị phạm-thiên trên tầng trời sắc-giới Phạm-thiên.

Các loài súc-sinh như voi, ngựa cùng các loài thú trong rừng có đức-tin trong sạch nơi Đức-Bồ-tát đạo-sĩ Temiya. Sau khi chúng chết, dục-giới đại-thiện-nghiệp cho quả tái-sinh lên cõi trời dục-giới.

Sau khi thuyết về tích Temiyajātaka xong, Đức-Thế-Tôn thuyết bài kệ rằng:

Matāpitā na me dessā,

nāpi me dessaṃ mahāyasaṃ.

Sabbaññutaṃ piyaṃ mayhaṃ,

tasmā vatamadhiṭṭhahiṃ.

Đức-Bồ-tát Thái-tử Temiya, tiền-kiếp Như-Lai

không phải ghét Đức-Phụ-vương và Mẫu-hậu,

cũng không phải ghét đại chúng thuộc hạ.

Sự thật, Đức-Bồ-tát Thái-tử Temiya có ý nguyện tha thiết, muốn trở thành Đức-Phật Toàn-Giác,

nên Đức-Bồ-tát Thái-tử Temiya phát nguyện 3 điều,

để tạo pháp-hạnh phát-nguyện ba-la-mật ấy.

Đó là pháp-hạnh phát-nguyện ba-la-mật bậc thượng của tiền-kiếp Như-Lai.

Sau khi thuyết về tích Đức-Bồ-tát Thái-tử Temiya, tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama xong, Đức-Thế-Tôn truyền dạy rằng:

Này chư tỳ-khưu! Không chỉ kiếp hiện-tại này Như-Lai từ bỏ ngai vàng đi xuất gia, mà còn tiền-kiếp của Như-Lai, kiếp Đức-Bồ-tát Thái-tử Temiya cũng không cần ngai vàng ngôi báu, mà phải thực-hành nghiêm chỉnh 3 điều đã phát-nguyện trong suốt 16 năm, mới được xuất gia trở thành đạo-sĩ.

Đức-Thế-Tôn thuyết về chân-lý tứ Thánh-đế, chư tỳ-khưu chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc Thánh-đạo, Thánh-quả và Niết-bàn, trở thành bậc Thánh-nhân thấp hoặc cao tuỳ theo năng lực của các pháp-hạnh ba-la-mật và 5 pháp-chủ: tín-pháp-chủ, tấn-pháp-chủ, niệm-pháp-chủ, định-pháp-chủ, tuệ-pháp-chủ của mỗi vị tỳ-khưu.

Tích Temiyajātaka Liên Quan Đến Kiếp Hiện-Tại

Tích Temiyajātaka này, Đức-Bồ-tát Thái-tử Temiya là tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama, tạo pháp-hạnh phát-nguyện ba-la-mật bậc thượng trong kiếp quá-khứ. Đến khi Đức-Phật Gotama đã xuất hiện trên thế gian, thì hậu-kiếp của những nhân vật trong tích Temiyajātaka ấy liên quan đến kiếp hiện-tại của những nhân vật ấy như sau:

Đức-Phụ-vương và Mẫu-hậu, nay kiếp hiện-tại là Đức-Phụ-vương Suddhodana và Mẫu-hậu Mahāmayādevī.

Người đánh xe Sunanda, nay kiếp hiện-tại là Ngài Đại-Trưởng-lão Sāriputta.

Đức-vua trời Sakka, nay kiếp hiện-tại là Ngài Trưởng-lão Anuruddha.

Vị thiên-nữ ngự tại cây lọng, nay kiếp hiện-tại là Ngài Đại-đức tỳ-khưu-ni Uppalavaṇṇā.

Các đạo-sĩ, nay kiếp hiện-tại là tứ chúng: tỳ-khưu, tỳ-khưu-ni, cận-sự-nam, cận-sự-nữ.

Đức-Bồ-tát Thái-tử Temiya, nay kiếp hiện-tại là Đức-Phật Gotama.

Mười Pháp-Hạnh ba-la-mật

Đức-Bồ-tát Thái-tử Temiya, tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama đã tạo pháp-hạnh phát-nguyện ba-la-mật bậc thượng. Ngoài ra, còn có 9 pháp-hạnh ba-la-mật phụ khác đồng thời thành tựu như sau:

Đức-Bồ-tát Thái-tử Temiya quyết tâm hy sinh thân mạng, đó là pháp-hạnh bố-thí ba-la-mật.

Đức-Bồ-tát Thái-tử Temiya giữ gìn giới trong sạch, đó là pháp-hạnh giữ-giới ba-la-mật.

Đức-Bồ-tát Thái-tử Temiya quyết tâm xuất gia trở thành đạo-sĩ, đó là pháp-hạnh xuất-gia ba-la-mật.

Đức-Bồ-tát Thái-tử Temiya có trí-tuệ suy xét sâu sắc, đó là pháp-hạnh trí-tuệ ba-la-mật.

Đức-Bồ-tát Thái-tử Temiya có sự tinh-tấn không ngừng, đó là pháp-hạnh tinh-tấn ba-la-mật.

Đức-Bồ-tát Thái-tử Temiya có đức nhẫn-nại cao thượng, đó là pháp-hạnh nhẫn-nại ba-la-mật.

Đức-Bồ-tát Thái-tử Temiya giữ gìn lời chân-thật đúng đắn, đó là pháp-hạnh chân-thật ba-la-mật.

Đức-Bồ-tát Thái-tử Temiya có tâm-từ vô lượng đến tất cả chúng-sinh, đó là pháp-hạnh tâm-từ ba-la-mật.

Đức-Bồ-tát Thái-tử Temiya có tâm-xả vô lượng trong các đối-tượng, đó là pháp-hạnh tâm-xả ba-la-mật.

9 pháp-hạnh ba-la-mật phụ này cũng đồng thời thành tựu cùng với pháp-hạnh phát-nguyện ba-la-mật bậc thượng này.

Nhận Xét Về Tích Đức-Bồ-Tát Thái-Tử Temiya

Đức-Bồ-tát Thái-tử Temiya là tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama, tạo pháp-hạnh phát-nguyện ba-la-mật bậc thượng (adhiṭṭhānaparamatthapāramī).

Pháp-hạnh phát-nguyện ba-la-mật bậc thượng là 1 trong 10 pháp-hạnh ba-la-mật bậc thượng, cũng là 1 trong 30 pháp-hạnh ba-la-mật mà Đức-Bồ-tát Chánh-Đẳng-Giác cần phải thực-hành cho được đầy đủ, để hỗ trợ trở thành Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác (Sammāsambuddha).

Phát-nguyện ba-la-mật đó là đại-thiện-tâm có quyết tâm không lay chuyển, giữ gìn lời phát nguyện chân thật của mình. Dù gặp hoàn cảnh nào vẫn không thoái chí nản lòng, quyết tâm tạo pháp-hạnh phát-nguyện ba-la-mật của mình cho được thành tựu.

Nếu Đức-Bồ-tát dám hy sinh thân mạng để tạo pháp-hạnh phát-nguyện ba-la-mật cho được thành tựu, thì gọi là pháp-hạnh phát-nguyện ba-la-mật bậc thượng.

Đức-Bồ-tát Thái-tử Temiya mới lên được 1 tháng tuổi, nhớ lại tiền-kiếp của mình đã từng làm vua được 20 năm, sử dụng quyền lực Đức-vua đã tạo ác-nghiệp.

Sau khi Đức-vua băng hà, ác-nghiệp ấy cho quả tái-sinh trong cõi tiểu-địa-ngục Ussudanaraka chịu quả khổ của ác-nghiệp ấy suốt 80.000 năm. Vì vậy, Đức-Bồ-tát Thái-tử Temiya cảm thấy lo sợ, đến lúc trưởng thành sẽ lên ngôi làm vua, nhưng Đức-Bồ-tát Thái-tử Temiya không muốn làm vua, nên Đức-Bồ-tát Thái-tử đã phát nguyện 3 điều là:

Đức-Bồ-tát Thái-tử Temiya không phải là người bại liệt, đã phát nguyện làm như là người bại liệt.

Đức-Bồ-tát Thái-tử Temiya không phải là người điếc, đã phát nguyện làm như là người điếc.

Đức-Bồ-tát Thái-tử Temiya không phải là người câm, đã phát nguyện làm như là người câm.

Thực-hành nghiêm chỉnh 3 điều phát nguyện ấy, nên Đức-Bồ-tát Thái-tử Temiya có đức nhẫn-nại chịu đựng biết bao nhiêu thử thách suốt 16 năm ròng rã, mà không một ai phát hiện ra được, Đức-Bồ-tát Thái-tử là con người siêu việt phi thường. Do đó, các vị Bà-la-môn xem tướng tâu dối lên Đức-vua rằng Thái-tử Temiya là con người xui xẻo. Tâu xin Đức-vua nên cho người chở vào rừng sâu chôn sống, để tránh tai hoạ cho Đức-vua, ngai vàng của Đức-vua và Chánh-cung Hoàng-hậu.

Đức-vua Bārāṇasī tin theo lời của các Bà-la-môn, truyền lệnh người đánh xe Sunanda chở Đức-Bồ-tát Thái-tử Temiya đưa vào rừng (Điều này vị thiên-nữ đã biết trước sự việc sẽ xảy ra như vậy).

Khi đến khu rừng, Đức-Bồ-tát Thái-tử Temiya được hoàn toàn tự do, nên Đức-Bồ-tát Thái-tử xuất gia trở thành đạo-sĩ, sống trong rừng.

Vấn: Tại sao Đức-Bồ-tát Thái-tử Temiya sợ lên ngôi làm vua?

Đáp: Bởi vì, Đức-Bồ-tát Thái-tử Temiya nhớ lại được tiền-kiếp của Đức-Bồ-tát đã từng làm vua được 20 năm, đã tạo ác-nghiệp. Sau khi Đức-vua băng hà, ác-nghiệp ấy cho quả tái-sinh trong cõi tiểu-địa-ngục Ussada-naraka, chịu quả khổ của ác-nghiệp ấy suốt thời gian lâu dài 80.000 năm, nên Đức-Bồ-tát Thái-tử Temiya sợ lên ngôi làm vua.

Mỗi chúng-sinh trong vòng sinh tử luân-hồi từ vô thủy trải qua vô số kiếp trong quá-khứ cho đến kiếp hiện-tại này, mỗi người trong chúng ta tin chắc rằng không có một ai mà không từng sinh trong cõi địa-ngục, a-su-ra, ngạ quỷ, súc-sinh.

Nếu có người thiện-trí nào trong chúng ta, nhớ lại được tiền-kiếp của mình, hoặc tin nghiệp và quả của nghiệp thì người thiện-trí ấy có hiri: biết hổ-thẹn tội-lỗi, có ottappa: biết ghê-sợ tội-lỗi, nên không dám tạo ác-nghiệp nào dù nhẹ.

* Người thiện-trí có hiri: biết hổ-thẹn tội-lỗi nghĩa là người thiện-trí ấy có đại-thiện-tâm biết hổ-thẹn đối với mình, nếu mỗi khi nghĩ tạo ác-nghiệp nào thì tự mình biết hổ-thẹn với mình, nên không dám tạo ác-nghiệp tội-lỗi ấy, mà cố gắng tránh xa mọi ác-nghiệp bằng thân, bằng khẩu, bằng ý, và chỉ có cố gắng tạo mọi phước-thiện thuộc về đại-thiện-nghiệp mà thôi.

* Người thiện-trí có ottappa: biết ghê-sợ tội-lỗi nghĩa là người thiện-trí ấy có đại-thiện-tâm biết ghê-sợ đối với người, nếu mỗi khi nghĩ tạo ác-nghiệp nào thì sợ bậc thiện-trí chê trách, sợ ác-nghiệp ấy cho quả khổ trong kiếp hiện-tại và vô số kiếp vị-lai, nên không dám tạo ác-nghiệp tội-lỗi ấy, mà cố gắng tránh xa mọi ác-nghiệp bằng thân, bằng khẩu, bằng ý, và chỉ có cố gắng tạo mọi phước-thiện thuộc về đại-thiện-nghiệp mà thôi.

Bởi vì người thiện-trí tin nghiệp và quả của nghiệp, tin chắc rằng:

Nếu ác-nghiệp nào mà mình đã tạo rồi, thì chỉ có ác-nghiệp ấy của mình mới cho quả khổ trong kiếp hiện-tại và có cơ hội cho quả tái-sinh kiếp sau trong 4 cõi ác-giới (địa-ngục, a-su-ra, ngạ-quỷ, súc-sinh) mà thôi.

Nếu đại-thiện-nghiệp nào mà mình đã tạo rồi, thì chỉ có đại-thiện-nghiệp ấy của mình mới cho quả an-lạc trong kiếp hiện-tại và có cơ hội cho quả tái-sinh kiếp sau trong 7 cõi thiện-dục-giới (cõi người và 6 cõi trời dục-giới) mà thôi.

Sở dĩ người thiện-trí tin nghiệp và quả của nghiệp là vì người thiện-trí gần gũi thân cận với bậc thiện-trí, cố gắng tinh-tấn theo học hỏi hiểu biết về mọi ác-nghiệp và quả khổ, quả xấu của mọi ác-nghiệp; học hỏi hiểu biết về 4 loại thiện-nghiệp và quả an-lạc, quả tốt của 4 loại thiện-nghiệp từ chư bậc thiện-trí, nên bậc thiện-trí mới tin nghiệp và quả của nghiệp.

Người thiện-trí nào có đức-tin trong sạch nơi Tam-bảo: Đức-Phật-bảo, Đức-Pháp-bảo, Đức-Tăng-bảo, tin nghiệp và quả của nghiệp, người thiện-trí ấy biết hổ-thẹn tội-lỗi, biết ghê-sợ tội-lỗi, nên không dám tạo 10 ác-nghiệp bằng thân, bằng khẩu, bằng ý, đồng thời tạo 10 đại-thiện-nghiệp bằng thân, bằng khẩu, bằng ý.

Người thiện-trí cố gắng tinh-tấn tạo 10 phước-thiện puññakriyāvatthu.

Mười Ác-Nghiệp

Người ác có ác-tâm không biết hổ-thẹn tội-lỗi, không biết ghê-sợ tội-lỗi, nên mới tạo 10 ác-nghiệp bằng thân, bằng khẩu, bằng ý như sau:

Thân ác-nghiệp có 3 loại:

Ác-nghiệp sát-sinh.

Ác-nghiệp trộm-cắp.

Ác-nghiệp tà-dâm.

Khẩu ác-nghiệp có 4 loại:

Ác-nghiệp nói-dối.

Ác-nghiệp nói lời chia-rẽ.

Ác-nghiệp nói lời thô-tục.

Ác-nghiệp nói lời vô-ích.

Ý ác-nghiệp có 3 loại:

Ác-nghiệp tham lam của cải tài-sản của người khác.

Ác-nghiệp thù hận người khác.

Ác-nghiệp tà-kiến thấy sai chấp lầm.

Ác-Nghiệp Và Quả Của Ác-Nghiệp

Ác-nghiệp đó là tác-ý tâm-sở đồng sinh với 12 bất-thiện-tâm là 8 tham-tâm, 2 sân-tâm, 2 si-tâm có cơ hội cho quả trong 2 thời-kỳ:

Thời-kỳ tái-sinh kiếp sau (paṭisandhikāla).

Thời-kỳ sau khi đã tái-sinh (pavattikāla) kiếp hiện-tại.

Thời-kỳ tái-sinh kiếp sau (paṭisandhikāla)

Người ác nào đã tạo ác-nghiệp nào, sau khi người ác ấy chết, ác-nghiệp ấy chỉ có trong 11 bất-thiện-tâm (trừ si-tâm hợp với phóng-tâm) có cơ hội cho quả trong thời-kỳ tái-sinh kiếp sau (paṭisandhikāla) chỉ có 1 quả-tâm là suy-xét-tâm đồng sinh với thọ xả là quả của ác-nghiệp thuộc về bất-thiện-quả vô-nhân-tâm gọi là ác-giới tái-sinh-tâm (paṭisandhicitta) làm phận sự tái-sinh kiếp sau trong 4 cõi ác-giới (địa-ngục, a-su-ra, ngạ-quỷ, súc-sinh), do năng lực của suy-xét-tâm đồng sinh với thọ xả là quả của ác-nghiệp như sau:

Nếu suy-xét-tâm nào đồng sinh với thọ xả là quả của ác-nghiệp trong 8 tham-tâm, thì tái-sinh kiếp sau hóa-sinh làm chúng-sinh trong loài ngạ-quỷ hoặc loài a-su-ra.

Nếu suy-xét-tâm nào đồng sinh với thọ xả là quả của ác-nghiệp trong 2 sân-tâm, thì tái-sinh kiếp sau hoá-sinh làm chúng-sinh trong cõi địa-ngục.

Nếu suy-xét-tâm nào đồng sinh với thọ xả là quả của ác-nghiệp trong si-tâm hợp với hoài-nghi, thì tái-sinh kiếp sau làm chúng-sinh trong loài súc-sinh.

Thời-kỳ sau khi đã tái-sinh (pavattikāla) kiếp hiện-tại

Suy-xét-tâm nào đồng sinh với thọ xả là quả của ác-nghiệp làm phận-sự tái-sinh-tâm (paṭisandhicitta) 1 sát-na-tâm trong thời-kỳ tái-sinh kiếp sau (paṭisandhikāla) xong, liền tiếp theo trong thời-kỳ sau khi đã tái-sinh (pavattikāla) kiếp hiện-tại, chính suy-xét-tâm ấy tiếp tục làm phận-sự hộ-kiếp-tâm (bhavaṅgacitta) giữ gìn bảo hộ kiếp chúng-sinh ấy cho đến hết tuổi thọ, rồi cũng chính suy-xét-tâm ấy làm phận-sự cuối cùng tử-tâm (cuticitta) chuyển-kiếp (chết) kết thúc kiếp hiện-tại của chúng-sinh ấy.

Trong thời-kỳ sau khi đã tái-sinh (pavattikāla) kiếp hiện-tại, ác-nghiệp trong 12 bất-thiện-tâm (ác-tâm) có cơ hội cho quả khổ, quả xấu, có 7 quả-tâm đó là 7 bất-thiện-quả vô-nhân-tâm tiếp xúc với các đối-tượng xấu trong kiếp hiện-tại của chúng-sinh trong cõi ác-giới ấy.

Thiện-Nghiệp Có 4 Loại

Thiện-nghiệp đó là tác-ý tâm-sở đồng sinh với 21 thiện-tâm là 8 dục-giới thiện-tâm, 5 sắc-giới thiện-tâm, 4 vô-sắc-giới thiện-tâm, 4 siêu-tam-giới thiện-tâm, tạo thiện-nghiệp, nên thiện-nghiệp có 4 loại:

1- Dục-giới thiện-nghiệp (đại-thiện-nghiệp) trong 8 dục-giới thiện-tâm (8 đại-thiện-tâm).

2- Sắc-giới thiện-nghiệp trong 5 sắc-giới thiện-tâm.

3- Vô-sắc-giới thiện-nghiệp trong 4 vô-sắc-giới thiện-tâm.

4- Siêu-tam-giới thiện-nghiệp trong 4 Thánh-đạo-tâm.

Dhamma Paññā

BQT trang Theravāda cố gắng sưu tầm thông tin tài liệu Dhamma trợ duyên quý độc giả tìm hiểu về Dhamma - Giáo Pháp Bậc Giác Ngộ thuyết giảng suốt 45 năm sau khi Ngài chứng đắc trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Chánh Giác vào đêm Rằm tháng 4, tìm hiểu thêm phương pháp thực hành thiền Anapana, thiền Vipassana qua các tài liệu, bài giảng, pháp thoại từ các Thiền Sư, các Bậc Trưởng Lão, Bậc Thiện Trí.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *