TẠNG LUẬT: TIỂU PHẨM TẬP I

LOGO dhcakka

TAM TẠNG PĀLI – VIỆT TẬP 6

TIỂU PHẨM TẬP I

ẤN BẢN 2013
Người Dịch: Tỳ khưu Indacanda
(Đọc với font VU- Times và Acrobat Reader)

(Văn Bản Song Ngữ Pāli – Việt)

MỤC LỤC

*****

LỜI GIỚI THIỆU

| 01 |
I. CHƯƠNG HÀNH SỰ

1. Hành sự khiển trách
Câu chuyện về các tỳ khưu nhóm Paṇḍuka và Lohitaka
Mười hai hành sự sai Pháp
Mười hai hành sự đúng Pháp
Sáu trường hợp trong khi mong muốn
Mười tám phận sự
Mười tám trường hợp không nên thu hồi
Mười tám trường hợp nên được thu hồi
Việc thu hồi

2. Hành sự chỉ dạy
Câu chuyện về trưởng lão Seyyasaka
Mười hai hành sự sai Pháp
Mười hai hành sự đúng Pháp
Sáu trường hợp trong khi mong muốn
Mười tám phận sự
Mười tám trường hợp không nên thu hồi
Mười tám trường hợp nên được thu hồi
Việc thu hồi

3. Hành sự xua đuổi
Hành vi sai trái của các vị nhóm Assaji và Punabbasuka
Mười hai hành sự sai Pháp
Mười hai hành sự đúng Pháp
– Mười bốn trường hợp trong khi mong muốn
– Mười tám phận sự
– Mười tám trường hợp không nên thu hồi
– Mười tám trường hợp nên được thu hồi
– Việc thu hồi

4. Hành sự hòa giải
Câu chuyện về trưởng lão Sudhamma
Mười hai hành sự sai Pháp
Mười hai hành sự đúng Pháp
Bốn trường hợp trong khi mong muốn
Mười tám phận sự
Mười tám trường hợp không nên thu hồi
Mười tám trường hợp nên được thu hồi
Việc thu hồi

| 02 |
5. Hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội
Câu chuyện về trưởng lão Channa
Mười hai hành sự sai Pháp
Mười hai hành sự đúng Pháp
Sáu trường hợp trong khi mong muốn
Bốn mươi ba phận sự
Việc làm phận sự đúng đắn của tỳ khưu Channa
Bốn mươi ba trường hợp không nên thu hồi
Bốn mươi ba trường hợp nên được thu hồi
Việc thu hồi

6. Hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi
Câu chuyện về trưởng lão Channa
Mười hai hành sự sai Pháp
Mười hai hành sự đúng Pháp
Sáu trường hợp trong khi mong muốn
Bốn mươi ba phận sự
Bốn mươi ba trường hợp không nên thu hồi
Bốn mươi ba trường hợp nên được thu hồi
Việc thu hồi

7. Hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác
Câu chuyện về tỳ khưu Ariṭṭha
Mười hai hành sự sai Pháp
Mười hai hành sự đúng Pháp
Sáu trường hợp trong khi mong muốn
Bốn mươi ba phận sự
Mười tám trường hợp không nên thu hồi
Mười tám trường hợp nên được thu hồi
Việc thu hồi

Các câu kệ tóm lược

*****

| 03 |
II. CHƯƠNG PARIVĀSA

1. – Phận sự của vị hành parivāsa
2. – Phận sự của vị xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu
3. – Phận sự của vị xứng đáng hình phạt mānatta
4. – Phận sự của vị thực hành mānatta
5. – Phận sự của vị xứng đáng sự giải

Các câu kệ tóm lược

*****

| 04 |
III. CHƯƠNG TÍCH LŨY TỘI

1. Tội xuất tinh
– Hình phạt mānatta của tội không có che giấu
– Việc giải tội của tội không có che giấu
– Hình phạt parivāsa của tội che giấu một ngày
– Hình phạt mānatta của tội che giấu một ngày
– Việc giải tội của tội che giấu một ngày
– Hình phạt parivāsa của tội che giấu năm ngày
– Việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của vị hành parivāsa
– Việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của vị xứng đáng hình phạt mānatta
– Hình phạt mānatta của nhóm ba tội
– Việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của vị thực hành mānatta
– Việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của vị xứng đáng sự giải tội
– Việc giải tội của vị được đưa về lại (hình phạt) ban đầu
– Hình phạt parivāsa của tội che giấu nửa tháng
– Việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của vị hành parivāsa nửa tháng
– Hình phạt parivāsa kết hợp
– Việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu, v.v… của vị xứng đáng hình phạt mānatta
– Hình phạt mānatta của nhóm ba tội
– Việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu, v.v… của vị thực hành mānatta
– Việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu đối với vị xứng đáng sự giải tội
– Việc giải tội của tội che giấu nửa tháng

| 05 |
2. Hình phạt parivāsa
– Hình phạt parivāsa kết hợp với giá trị của tội
– Hình phạt parivāsa kết hợp với giá trị của tội che giấu dài ngày
– Hình phạt parivāsa hai tháng
– Cách thức nên hành parivāsa hai tháng
– Hình phạt parivāsa từ mốc trong sạch

3. – Bốn mươi trường hợp hành parivāsa

4. – Ba mươi sáu trường hợp hành parivāsa

5. – Một trăm trường hợp mānatta

6. – Bốn trăm trường hợp đưa về lại (hình phạt) ban đầu

7. – Tám trường hợp có hạn lượng, v.v…

8. – Mười một trường hợp về hai vị tỳ khưu

9. – Chín trường hợp không được trong sạch trong việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu

10. – Chín trường hợp được trong sạch trong việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu

11. – Chín trường hợp được trong sạch thứ nhì trong việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu

Các câu kệ tóm lược

*****

| 06 |
IV. CHƯƠNG DÀN XẾP

1. – Hành xử Luật với sự hiện diện
2. – Hành xử Luật bằng sự ghi nhớ
3. – Hành xử Luật khi không điên cuồng
4. – Việc phán xử theo tội đã được thừa nhận
5. – Thuận theo số đông
6. – Theo tội của vị ấy
7. – Cách dùng cỏ che lấp
8. – Bốn sự tranh tụng
9. – Cách làm lắng dịu sự tranh tụng
– Hành xử Luật với sự hiện diện
– Cách giải quyết theo lối đại biểu
– Cách hành xử Luật thuận theo số đông
– Ba cách phân phát thẻ
– Hành xử Luật bằng sự ghi nhớ
– Hành xử Luật khi không điên cuồng
– Theo tội của vị ấy
– Việc phán xử theo tội đã được thừa nhận
– Cách dùng cỏ che lấp

Dứt Chương Dàn Xếp là thứ tư.

–ooOoo–

LỜI GIỚI THIỆU

Vinayapiṭaka – Tạng Luật gồm có 3 phần chính là: Suttavibhaṅga, Khandhaka, và Parivāra.

– Suttavibhaṅga – Phân Tích Giới Bổn (3 tập): Nội dung là các điều học thuộc giới bổn Pātimokkha của hàng xuất gia gồm có các điều học dành cho tỳ khưu được trình bày ở hai tập đầu, và của tỳ khưu ni ở tập ba.

– Khandhaka – Hợp Phần (4 tập): Gồm các vấn đề có liên quan với nhau đã được sắp xếp thành từng khandhaka, có thể dịch là chương hay phần (khandha có nghĩa là khối, nhóm, uẩn, … Tiếp vĩ ngữ -ka trong trường hợp này có ý nghĩa là thuộc về, có liên quan). Toàn bộ gồm có 22 khandhaka và được chia làm hai là: Mahāvagga – Đại Phẩm gồm có 10 khandhaka và Cullavagga – Tiểu Phẩm gồm 12 khandhaka còn lại.

– Parivāra – Tập Yếu (2 tập): Nội dung là những điều chính yếu đã được chọn lọc từ hai phần trên, Suttavibhaṅga và Khandhaka, và đã được sắp xếp, trình bày qua những góc nhìn khác biệt.

Tổng cộng Vinayapiṭaka – Tạng Luật sẽ được ấn tống thành 9 tập.

*****

Cullavagga – Tiểu Phẩm gồm có 12 chương được trình bày thành hai tập: Cullavagga 1 & Tiểu Phẩm 1 (TTPV 06, Tam Tạng Pāḷi – Việt tập 06) có 4 chương, và Cullavagga 2 & Tiểu Phẩm 2 (TTPV 07) gồm 8 chương còn lại. Bốn chương đầu thuộc tập một có nội dung tóm lược như sau:

1. Chương 1 là chương Hành Sự đề cập đến bảy loại hành sự nhằm mục đích nhắc nhở và cảnh tỉnh vị tỳ khưu có những hành vi không đúng với Pháp không đúng với Luật hầu tạo điều kiện cho vị ấy có cơ hội phục thiện và sửa đổi. Bảy hành sự ấy là hành sự khiển trách, hành sự chỉ dạy, hành sự xua đuổi, hành sự hòa giải, và 3 loại hành sự án treo trong việc không nhìn nhận tội, trong việc không sửa chữa lỗi, và trong việc không từ bỏ tà kiến ác.

2. Chương 2 giảng giải về cách thức phục hồi cho vị tỳ khưu phạm tội saṅghādisesa từ lúc khởi đầu cho đến khi kết thúc trải qua các giai đoạn thực hành hành phạt parivāsa, hành phạt mānatta, hoặc chịu phạt lại từ đầu (mūlāya paṭikassanaṃ) do vi phạm lại tội ấy hoặc tội tương tợ trong thời gian thực thi hành phạt, và cuối cùng là phần giải tội abbhāna để phục hồi phẩm vị trước đây cho vị tỳ khưu phạm tội.

3. Chương 3 giảng giải chi tiết về các trường hợp phạm tội có tính chất đa dạng: nghĩa là trong khi đang thực thi các hành phạt để thoát khỏi tội saṅghādisesa, vị tỳ khưu ấy vẫn tiếp tục vi phạm lại tội ấy lần nữa hoặc các tội tương tợ cùng nhóm.

4. Chương 4 giảng giải về bảy cách dàn xếp là cách hành xử Luật với sự hiện diện, hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, hành xử Luật khi không điên cuồng, việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, thuận theo số đông, theo tội của vị ấy, cách dùng cỏ che lấp đối với bốn loại tranh tụng là sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi, sự tranh tụng liên quan đến khiển trách, sự tranh tụng liên quan đến tội, và sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ.

*****

Về hình thức, văn bản Pāḷi Roman được trình bày ở đây đã được phiên âm lại từ văn bản Pāḷi – Sinhala, ấn bản Buddha Jayanti Tripitaka Series của nước quốc giáo Sri Lanka. Nhân đây, chúng tôi cũng xin thành tâm tán dương công đức của Ven. Mettāvihārī đã hoan hỷ cho phép chúng tôi sử dụng văn bản đã được phiên âm sẵn đang phổ biến trên mạng internet. Điều này đã tiết kiệm cho chúng tôi nhiều thời gian và công sức trong việc nhận diện mặt chữ và đánh máy; tuy nhiên việc kiểm tra đối chiếu lại với văn bản chánh cũng đã chiếm khá nhiều thời gian.

Về phương diện dịch thuật và trình bày văn bản tiếng Việt, như đã trình bày ở các tập Luật trước, chúng tôi giữ nguyên từ Pāli của một số thuật ngữ không dịch sang tiếng Việt ví dụ như tên các điều học pārājika, saṅghādisesa, hoặc tên của các nghi thức như là lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, v.v… Ngoài ra cũng có một số từ không tìm ra được nghĩa Việt như trường hợp tên các loại thảo mộc. Thêm vào đó, chúng tôi cũng đã sử dụng dạng chữ nghiêng cho một số chữ hoặc câu văn nhằm gợi sự chú ý của người đọc về tầm quan trọng của ý nghĩa, hoặc về tính chất thực dụng của chúng. Riêng về các câu kệ ngôn, chúng tôi đã ghi nghĩa Việt bằng văn xuôi nhằm diễn tả trọn vẹn ý nghĩa của văn bản gốc, và được trình bày bằng dạng chữ nghiêng để làm nổi bật sự khác biệt.

Về văn phong của lời dịch, chúng tôi chủ trương ghi lại lời tiếng Việt sát theo văn bản gốc và cố gắng không bỏ sót từ nào không dịch. Lời văn tiếng Việt của chúng tôi có chứa đựng những mấu chốt giúp cho những ai có ý thích nghiên cứu Pāḷi thấy ra được cấu trúc của loại ngôn ngữ này, đống thời tạo sự thuận tiện cho công việc hiệu đính trong tương lai. Việc làm này của chúng tôi không hẳn đã được hoàn hảo, dẫu sao cũng là bước khởi đầu nhằm thúc đẩy phong trào nghiên cứu cổ ngữ Phật Học của người Việt Nam. Tuy nhiên, một số sai sót trong quá trình phiên dịch đương nhiên không thể tránh khỏi, chúng tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về trình độ yếu kém.

Nhân đây, chúng tôi cũng xin chân thành ghi nhận sự quan tâm chăm sóc trực tiếp hoặc gián tiếp đối với công tác phiên dịch của chúng tôi về phương diện vật thực bồi dưỡng và thuốc men chữa bệnh của các vị hữu ân sau: Ni Sư Kiều Đàm Di, Sư Cô Từ Tâm, Sư Cô Huệ Tín, nhóm Phật tử California do Cô Phạm Thị Thi đại điện, gia đình Nguyễn văn Hiền & Trần Hường, gia đình Phạm Trọng Độ & Ngô thị Liên, và Phật tử Nguyễn thị Kim Thảo. Công việc soạn thảo này được thông suốt, không bị gián đoạn, chính là nhờ có sự hỗ trợ cấp thời và quý báu của quý vị. Thành tâm cầu chúc quý vị luôn giữ vững niềm tin và thành tựu được nhiều kết quả trong công việc tu tập giải thoát và hộ trì Tam Bảo.

Một điều thiếu sót lớn nếu không đề cập đến sự nhiệt tình giúp đỡ của Phật tử Tung Thiên đã sắp xếp thời gian để đọc qua bản thảo và đã đóng góp nhiều ý kiến sâu sắc giúp cho chúng tôi tránh được một số điểm sai sót và vụng về trong việc sử dụng từ ngữ tiếng Việt. Chúng tôi cũng xin thành tâm tùy hỷ và tán dương công đức của các thí chủ đã nhiệt tâm đóng góp tài chánh giúp cho Công Trình Ấn Tống Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi – Việt được tồn tại và phát triến, mong sao phước báu Pháp thí này luôn dẫn dắt quý vị vào con đường tu tập đúng theo Chánh Pháp, thành tựu Chánh Trí, chứng ngộ Niết Bàn, không còn luân hồi sanh tử nữa.

Nhân đây, cũng xin thành kính tri ân công đức của Ven. Wattegama Dhammawasa, Sanghanāyaka ở Australia và cũng là Tu Viện Trưởng tu viện Sri Subodharama Buddhist Centre ở Peradeniya – Sri Lanka, đã cung cấp trú xứ cho chúng tôi ở Khu Ẩn Lâm Subodha, dưới chân núi Ambuluwawa, Gampola, cách thủ đô Colombo khoảng 150 cây số. Điều kiện yên tĩnh và khí hậu mát mẻ trong lành ở đây đã giúp cho chúng tôi rất nhiều trong việc chú tâm và kiên trì thực hiện bản soạn thảo của các tập Luật. Cũng không quên nhắc đến sự phục vụ và chăm sóc về mọi mặt, nhất là vật thực của hai vị cư sĩ người Sri Lanka là Gunavardhana và Dayānanda ở trú xứ này đã giúp cho chúng tôi có thể tập trung toàn thời gian cho công việc phiên dịch này.

Cuối cùng, ngưỡng mong phước báu phát sanh trong công việc soạn thảo tập Kinh này được thành tựu đến thầy tổ, song thân, và tất cả chúng sanh trong tam giới. Nguyện cho hết thảy đều được an vui, sức khỏe, có trí tuệ, và tinh tấn tu tập ngõ hầu thành đạt cứu cánh giải thoát, chấm dứt khổ đau.

Kính bút,
Khu Ẩn Lâm Subodha
ngày 15 tháng 01 năm 2010
Tỳ Khưu Indacanda (Trương Đình Dũng)

–ooOoo–

CÁC TỪ CHUYÊN MÔN

Một số từ chuyên môn cùng với các từ dịch nghĩa hoặc dịch âm bởi các dịch giả khác đã được trích lục và ghi lại dưới đây:

– Pātimokkha: giới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa, biệt biệt giải thoát giới.
– Pārājika: tội bất cộng trụ, ba-la-di, triệt khai, ba-la-thị-ca, giới khí.
– Saṅghādisesa: tội tội tăng tàn, tăng tàng, tăng-già-bà-thi-sa, tăng-già-phạt-thi-sa.
– Aniyata: tội bất định.
– Nissaggiya pācittiya: tội ưng xả đối trị, ni-tát-kỳ-ba-dật-đề, ni-tát-kỳ-ba-dật-để-ca, giới xả đọa.
– Pācittiya: tội ưng đối trị, ba-dật-đề, ba-dật-để-ca, giới đọa.
– Pāṭidesanīya: tội ưng phát lộ, ba-la-đề đề-xá-ni, ba-dạ-đề, ba-la-để-đề-xá-ni, giới hối quá.
– Sekhiya dhamma: ưng học pháp, chúng-học-pháp, pháp chúng học, giới học.
– Adhikaraṇa dhamma: pháp diệt tranh, pháp diệt-tránh, pháp điều giải.
– Thullaccaya: trọng tội, tội thâu lan giá.
– Dukkaṭa: tội tác ác, đột cát la.
– Dubbhāsita: tội ác khẩu.
– Parivāsa: phạt biệt trú.
– Mānatta: hành tự hối.
– Abbhāna: phục vị.
– Uposatha: lễ Bố Tát.
– Pavāraṇā: lễ Tự Tứ.

–ooOoo–

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

VinA. : Vinaya Aṭṭhakathā (Samantapāsādikā)
– Chú Giải Tạng Luật (PTS)
ND : Chú thích của Người Dịch
PTS : Nhà Xuất Bản Pali Text Society (Anh Quốc)
Sđd. : Sách đã dẫn
TTPV : Tam Tạng Pāḷi – Việt

 

Nguồn: Tamtangpaliviet.net