Đại Phẩm II

Chương Kaṭhina

Liên kết: Pāḷi | Việt | Anh | Video t.Việt | Video t.Anh | Audio | PDF | Chú Giải Pāḷi | Phụ Chú Giải Pāḷi | Tìm hiểu thêm | Bài giảng khác

Tụng Phẩm Cầm Lấy

  1. Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
  1. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu xứ Pāvā có số lượng là ba mươi, tất cả là các vị chuyên ngụ ở rừng, tất cả là các vị chuyên đi khất thực, tất cả là các vị mặc y may từ vải dơ bị quăng bỏ, tất cả là các vị chỉ sử dụng ba y. Trong khi đang đi đến Sāvatthi để diện kiến đức Thế Tôn, do việc vào mùa (an cư) mưa đã đến gần nên các vị đã không thể thành tựu việc vào mùa (an cư) mưa ở Sāvatthi. Các vị đã vào mùa (an cư) mưa ở Sāketa, vào khoảng giữa lộ trình.
  1. Các vị đã sống qua mùa (an cư) mưa với vẻ phiền muộn (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn ngự rất gần chúng ta cách đây chỉ sáu do tuần, vậy mà chúng ta không được diện kiến đức Thế Tôn.”
  1. Sau đó, khi đã sống qua mùa (an cư) mưa trong thời gian ba tháng, khi đã thực hiện lễ Pavāraṇā, trong lúc trời còn đang mưa, trong khi có sự gom tụ nước lại thành vũng bùn lầy, các vị tỳ khưu ấy với các y bị đẫm nước và có dáng điệu mệt mỏi đã đi đến thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
  1. Điều này đã trở thành thông lệ đối với chư Phật Thế Tôn là niềm nở với các tỳ khưu đi đến. Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với các vị tỳ khưu ấy điều này: – “Này các tỳ khưu, sức khoẻ có khá không? Mọi việc có được tốt đẹp không? Các ngươi đã sống qua mùa (an cư) mưa có được thoải mái, có sự hợp nhất, thân thiện, không cãi cọ nhau không? Và các ngươi có không bị khó nhọc vì đồ ăn khất thực không?”
  1. – “Bạch Thế Tôn, sức khoẻ khá. Bạch Thế Tôn, mọi việc đều tốt đẹp. Và bạch ngài, chúng con đã sống qua mùa (an cư) mưa có sự hợp nhất, thân thiện, không cãi cọ nhau, và không bị khó nhọc vì đồ ăn khất thực. Bạch ngài, trường hợp chúng con là các tỳ khưu xứ Pāvā có số lượng là ba mươi, trong khi đang đi đến Sāvatthi để diện kiến đức Thế Tôn, do việc vào mùa (an cư) mưa đã đến gần nên các vị đã không thể thành tựu việc vào mùa (an cư) mưa ở Sāvatthi. Chúng con đã vào mùa (an cư) mưa ở Sāketa, vào khoảng giữa lộ trình. Bạch ngài, chúng con đây đã sống qua mùa (an cư) mưa với vẻ phiền muộn (nghĩ rằng): ‘Đức Thế Tôn ngự rất gần chúng ta cách đây chỉ sáu do tuần, vậy mà chúng ta không được diện kiến đức Thế Tôn.’ Bạch ngài, sau khi đã sống qua mùa (an cư) mưa trong thời gian ba tháng, khi đã thực hiện lễ Pavāraṇā, trong lúc trời còn đang mưa, trong khi có sự gom tụ nước lại thành vũng bùn lầy, chúng con đã đi đường xa đến với các y bị đẫm nước và có dáng vẻ mệt mỏi.”
  1. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: – “Này các tỳ khưu, ta cho phép thành tựu Kaṭhina đến các tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa. Này các tỳ khưu, khi các ngươi có Kaṭhina đã được thành tựu, năm điều này sẽ trở thành được phép: việc ra đi không phải báo, việc ra đi không mang theo (đủ ba y), sự thọ thực thành nhóm, (được sử dụng nhiều) y theo như nhu cầu, sự phát sanh về y tại nơi ấy sẽ là của các vị ấy. Này các tỳ khưu, khi các ngươi có Kaṭhina đã được thành tựu, năm điều này sẽ được phép đối với các ngươi.
  1. Và này các tỳ khưu, Kaṭhina nên được thành tựu như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:

‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vải Kaṭhina này đã được phát sanh đến hội chúng. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên trao vải Kaṭhina này đến vị tỳ khưu tên (như vầy) để thành tựu Kaṭhina. Đây là lời đề nghị.

Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vải Kaṭhina này đã được phát sanh đến hội chúng. Hội chúng trao vải Kaṭhina này đến vị tỳ khưu tên (như vầy) để thành tựu Kaṭhina. Đại đức nào đồng ý việc trao vải Kaṭhina này đến vị tỳ khưu tên (như vầy) để thành tựu Kaṭhina xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.

Vải Kaṭhina này đã được hội chúng trao đến vị tỳ khưu tên (như vầy) để thành tựuKaṭhina. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’

  1. Này các tỳ khưu, như vầy là Kaṭhina được thành tựu, như vầy là không được thành tựu. Và này các tỳ khưu, thế nào là Kaṭhina không được thành tựu? Kaṭhina không được thành tựu ở giai đoạn đánh dấu về chiều dài, chiều rộng. Kaṭhina không được thành tựu ở giai đoạn giặt. Kaṭhina không được thành tựu ở giai đoạn tính toán về y năm điều, hoặc bảy điều, hoặc chín điều, v.v… Kaṭhina không được thành tựu ở giai đoạn cắt theo sự đã tính toán. Kaṭhinakhông được thành tựu ở giai đoạn kết chỉ tạm. Kaṭhina không được thành tựu ở giai đoạn may lại theo đường chỉ lược cho chắc. Kaṭhina không được thành tựu ở giai đoạn gắn miếng vải làm dấu. Kaṭhina không được thành tựu ở giai đoạn may chắc chắn. Kaṭhina không được thành tựu ở giai đoạn làm miếng vải viền. Kaṭhina không được thành tựu ở giai đoạn làm đường viền quanh. Kaṭhina không được thành tựu ở giai đoạn đắp thêm một lớp nữa. Kaṭhina không được thành tựu ở giai đoạn nhuộm. Kaṭhina không được thành tựu do sự ra dấu hiệu gợi ý để thí chủ dâng. Kaṭhina không được thành tựu do sự giảng giải về Kaṭhinarồi kêu gọi. Kaṭhina không được thành tựu với y được mượn tạm thời. Kaṭhina không được thành tựu với sự tích trữ. Kaṭhina không được thành tựu do sự hủy bỏ vì để qua đêm. Kaṭhinakhông được thành tựu với sự không làm thành được phép tức là không làm dấu hoại y.Kaṭhina không được thành tựu với y không phải là y hai lớp. Kaṭhina không được thành tựu với y không phải là thượng y (y vai trái). Kaṭhina không được thành tựu với y không phải là y nội. Kaṭhina không được thành tựu với y không phải là năm điều hoặc nhiều hơn năm điều, không được cắt và kết lại nội trong ngày hôm ấy. Kaṭhina không được thành tựu trừ phi do sự thành tựu bởi cá nhân. Nếu Kaṭhina đã được thành tựu đúng đắn nhưng vị tùy hỷ việc ấy đứng ngoài ranh giới, như vậy Kaṭhina vẫn không được thành tựu. Này các tỳ khưu, như thế ấy là Kaṭhina không được thành tựu.

[Hai mươi bốn điều kiện]

*****

  1. Và này các tỳ khưu, thế nào là Kaṭhina được thành tựu? Kaṭhina được thành tựu với (vải) mới (chưa được sử dụng). Kaṭhina được thành tựu với (vải) được xem như mới. Kaṭhina được thành tựu với vải áo choàng cũ. Kaṭhina được thành tựu với vải dơ bị quăng bỏ. Kaṭhina được thành tựu với vải đã được bỏ ở trước cửa tiệm, có người nhặt lấy rồi đem dâng. Kaṭhina được thành tựu với sự không ra dấu hiệu gợi ý để thí chủ dâng. Kaṭhina được thành tựu không do sự giảng giải về Kaṭhina rồi kêu gọi. Kaṭhina được thành tựu với sự làm không phải là với y được mượn tạm thời. Kaṭhina được thành tựu với sự không tích trữ.Kaṭhina được thành tựu do không để qua đêm. Kaṭhina được thành tựu với với sự làm thành được phép tức là làm dấu hoại y. Kaṭhina được thành tựu với y hai lớp. Kaṭhina được thành tựu với thượng y (y vai trái). Kaṭhina được thành tựu với y nội. Kaṭhina được thành tựu với y là năm điều hoặc nhiều hơn năm điều, được cắt và kết lại nội trong ngày hôm ấy. Kaṭhinađược thành tựu do sự thành tựu bởi cá nhân. Nếu Kaṭhina đã được thành tựu đúng đắn và vị tùy hỷ việc ấy đứng trong ranh giới, như vậy Kaṭhina được thành tựu. Này các tỳ khưu, như thế ấy là Kaṭhina được thành tựu.

[Mười bảy điều kiện]

*****

  1. Và này các tỳ khưu, thế nào là Kaṭhina hết hiệu lực? Này các tỳ khưu, đây là tám tiêu đề về sự hết hiệu lực của Kaṭhina: ‘Do sự ra đi, do (y) được hoàn tất, do tự mình dứt khoát, do bị mất, do nghe được (tin), do sự tan vỡ của niềm mong mỏi, do sự vượt qua ranh giới, do sự hết hiệu lực cùng một lúc.’
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y đã được làm xong, ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không trở về.’ Sự việc ra đi là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (1)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (2)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa. Ta sẽ không trở về.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (3)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (4)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, nghe được (tin) rằng: ‘Nghe nói Kaṭhina tại trú xứ ấy đã được thâu hồi.’[1] Sự việc nghe được (tin) là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (5)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về, ta sẽ trở về’ rồi chờ đợi sự hết hiệu lực Kaṭhina ở bên ngoài. Sự việc vượt qua ranh giới là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (6)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về, ta sẽ trở về.’ Thời điểm hết hiệu lực Kaṭhina đã đến. Sự hết hiệu lực Kaṭhina của vị tỳ khưu ấy là chung (lượt) với các vị tỳ khưu. (7)

Dứt nhóm bảy về ‘cầm lấy.’

*****

  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y đã được làm xong, ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không trở về.’ Sự việc ra đi là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (1)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y (chưa được làm), ra đi. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (2)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y (chưa được làm), ra đi. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa. Ta sẽ không trở về.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (3)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y (chưa được làm), ra đi. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (4)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y (chưa được làm), ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, nghe được (tin) rằng: ‘Nghe nói Kaṭhina tại trú xứ ấy đã được thâu hồi.’ Sự việc nghe được (tin) là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (5)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y (chưa được làm), ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về, ta sẽ trở về,’ và chờ đời sự hết hiệu lực Kaṭhina ở bên ngoài. Sự việc vượt qua ranh giới là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (6)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y (chưa được làm), ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về, ta sẽ trở về.’ Thời điểm hết hiệu lực Kaṭhina đã đến. Sự hết hiệu lực Kaṭhina của vị tỳ khưu ấy là chung (lượt) với các vị tỳ khưu. (7)

Dứt nhóm bảy về ‘mang theo.’

*****

  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y chưa làm xong, ra đi. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (1)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y chưa làm xong, ra đi. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa. Ta sẽ không trở về.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (2)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y chưa làm xong, ra đi. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (3)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y chưa làm xong, ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, nghe được (tin) rằng: ‘Nghe nói Kaṭhina tại trú xứ ấy đã được thâu hồi.’ Sự việc nghe được (tin) là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (4)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y chưa làm xong, ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về, ta sẽ trở về’ và chờ đợi sự hết hiệu lực Kaṭhina ở bên ngoài. Sự việc vượt qua ranh giới là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (5)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y chưa làm xong, ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về, ta sẽ trở về.’ Thời điểm hết hiệu lực Kaṭhina đã đến. Sự hết hiệu lực Kaṭhina của vị tỳ khưu ấy là chung (lượt) với các vị tỳ khưu. (6)

Dứt nhóm sáu về ‘cầm lấy.’

*****

  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y chưa làm xong, ra đi. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (1)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y chưa làm xong, ra đi. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa. Ta sẽ không trở về.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (2)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y chưa làm xong, ra đi. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (3)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y chưa làm xong, ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, nghe được (tin) rằng: ‘Nghe nói Kaṭhina tại trú xứ ấy đã được thâu hồi.’ Sự việc nghe được (tin) là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (4)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y chưa làm xong, ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về, ta sẽ trở về’ và chờ đợi sự hết hiệu lực Kaṭhina ở bên ngoài. Sự việc vượt qua ranh giới là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (5)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y chưa làm xong, ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về, ta sẽ trở về.’ Thời điểm hết hiệu lực Kaṭhina đã đến. Sự hết hiệu lực Kaṭhina của vị tỳ khưu ấy là chung (lượt) với các vị tỳ khưu. (6)

Dứt nhóm sáu về ‘mang theo.’

*****

  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (1)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa. Ta sẽ không trở về.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (2)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (3)

[Nhóm ba về ‘cầm lấy’ 1]

  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (4)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (5)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (6)

[Nhóm ba về ‘cầm lấy’ 2]

  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi và còn chưa quyết định; vị ấy không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ trở về’ và vị ấy cũng không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (7)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi và còn chưa quyết định; vị ấy không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ trở về’ và vị ấy cũng không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa. Ta sẽ không trở về.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (8)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi và còn chưa quyết định; vị ấy không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ trở về’ và vị ấy cũng không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (9)

[Nhóm ba về ‘cầm lấy’ 3]

  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (10)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa. Ta sẽ không trở về.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (11)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (12)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, nghe được (tin) rằng: ‘Nghe nói Kaṭhina tại trú xứ ấy đã được thâu hồi.’ Sự việc nghe được (tin) là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (13)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về, ta sẽ trở về’ và chờ đợi sự hết hiệu lực Kaṭhina ở bên ngoài. Sự việc vượt qua ranh giới là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (14)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về, ta sẽ trở về.’ Thời điểm hết hiệu lực Kaṭhina đã đến. Sự hết hiệu lực Kaṭhina của vị tỳ khưu ấy là chung (lượt) với các vị tỳ khưu. (15)

[Nhóm sáu về ‘cầm lấy’]

[Dứt nhóm mười lăm về ‘cầm lấy’]

*****

  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y (chưa được làm), ra đi. ―(như trên)― (Tương tợ như ở trường hợp ‘cầm lấy,’ nên giải thích chi tiết như thế).

[Nhóm mười lăm về ‘mang theo’ được giản lược]

*****

  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y chưa làm xong, ra đi. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (Tương tợ như ở trường hợp ‘mang theo,’ nên giải thích chi tiết như thế).

[Nhóm mười lăm về ‘cầm lấy y chưa làm xong’ được giản lược]

*****

  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y chưa làm xong, ra đi. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (1)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y chưa làm xong, ra đi. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa. Ta sẽ không trở về.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (2)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y chưa làm xong, ra đi. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (3)

[Nhóm ba về ‘mang theo y chưa làm xong’ 1]

  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y chưa làm xong, ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (4)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y chưa làm xong, ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (5)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y chưa làm xong, ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (6)

[Nhóm ba về ‘mang theo y chưa làm xong’ 2]

  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y chưa làm xong, ra đi và còn chưa quyết định; vị ấy không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ trở về’ và vị ấy cũng không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (7)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y chưa làm xong, ra đi và còn chưa quyết định; vị ấy không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ trở về’ và vị ấy cũng không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa. Ta sẽ không trở về.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (8)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y chưa làm xong, ra đi và còn chưa quyết định; vị ấy không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ trở về’ và vị ấy cũng không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (9)

[Nhóm ba về ‘mang theo y chưa làm xong’ 3]

  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y chưa làm xong, ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (10)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y chưa làm xong, ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa. Ta sẽ không trở về.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (11)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y chưa làm xong, ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (12)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y chưa làm xong, ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, nghe được (tin) rằng: ‘Nghe nói Kaṭhina tại trú xứ ấy đã được thâu hồi.’ Sự việc nghe được (tin) là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (13)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y chưa làm xong, ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về, ta sẽ trở về’ và chờ đợi sự hết hiệu lực Kaṭhina ở bên ngoài. Sự việc vượt qua ranh giới là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (14)
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y chưa làm xong, ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về, ta sẽ trở về.’ Thời điểm hết hiệu lực Kaṭhina đã đến. Sự hết hiệu lực Kaṭhina của vị tỳ khưu ấy là chung (lượt) với các vị tỳ khưu. (15)

[Nhóm sáu về ‘mang theo y chưa làm xong’]

[Nhóm mười lăm về ‘mang theo y chưa làm xong’]

Dứt tụng phẩm ‘cầm lấy.’

–ooOoo–

[1] Vấn đề thâu hồi Kaṭhina được ghi lại ở điều pācittiya 30 của tỳ khưu ni (Xem Bhikkhunī-vibhaṅgaPhân Tích Giới Tỳ Khưu Ni, TTPV 03, trang 204-207).

 

TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID & IOS)

* Thuộc ĐẠI PHẨM II - HỢP PHẦN - TẠNG LUẬT - TAM TẠNG TIPITAKA |Dịch Việt: Tỳ Khưu Indacanda | Nguồn: Tamtangpaliviet.net

Dhamma Paññā

BQT trang Theravāda cố gắng sưu tầm thông tin tài liệu Dhamma trợ duyên quý độc giả tìm hiểu về Dhamma - Giáo Pháp Bậc Giác Ngộ thuyết giảng suốt 45 năm sau khi Ngài chứng đắc trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Chánh Giác vào đêm Rằm tháng 4, tìm hiểu thêm phương pháp thực hành thiền Anapana, thiền Vipassana qua các tài liệu, bài giảng, pháp thoại từ các Thiền Sư, các Bậc Trưởng Lão, Bậc Thiện Trí.

Trả lời

Từ điển
Youtube
Live Stream
Tải app