Buddho

Những Bước Cơ Bản Đầu Tiên Để Thực Hành Thiền

Khi thực hành thiền với đề mục niệm Buddho, bạn phải thực hành cho đạt đến mức thuần thục và có thể nhanh chóng nhất niệm.

Mỗi khi có trạng thái tình cảm tốt hay xấu nào đó tấn công bạn, bạn phải có khả năng ổn định tâm mình ngay lập tức. Chớ để tâm mình bị tác động bởi trạng thái tình cảm đó. Mỗi khi nghĩ đến Buddho, tâm bạn sẽ quy tụ lại ngay lập tức: khi đã có thể làm được điều này, tâm bạn sẽ trở nên vững chắc và có thể tự nương tựa vào chính nơi mình.

Khi thực hành theo cách này đến mức thuần thục và dầy dạn kinh nghiệm, sau một thời gian bạn sẽ phát hiện ra là những phiền não và dính mắc trong mình đối với tất cả mọi thứ dần dần tự biến mất. Bạn không phải cố công dẹp bỏ phiền não này, phiền não kia nữa, không còn phải tự bắt mình phải đoạn trừ phiền não này, phiền não nọ bằng phương pháp này, phương pháp kia nữa. Hãy bằng lòng với bất cứ phương pháp nào mà bạn cảm thấy thích hợp với mình. Thế là đủ!

Làm cho phiền não dần dần biến mất với phương pháp tôi vừa trình bày ở trên thì hay hơn là cứ phải cố thu xếp, sắp đặt mọi việc, phải nhập bốn tầng thiền chỉ, loại bỏ tầm, tứ, hỷ, lạc để chỉ còn lại nhất tâm và xả; hay hơn là phải cố sắp đặt để đạt tới được tầng giác ngộ đầu tiên bằng cách loại bỏ thân kiến, hoài nghi và giới cấm thủ; hoặc bằng cách xem xét các loại phiền não và tự nói với mình rằng: “với loại phiền não đó, tôi sẽ có thể quán chiếu như thế này, thế này để vượt qua nó. Tôi còn rất nhiều loại phiền não như thế, như thế trong mình, nếu có thể quán chiếu như vậy, các phiền não đó sẽ đoạn tận”.

Nhưng bạn không hề nhận ra rằng chính cái tâm muốn thấy, muốn biết và muốn đạt được những điều đó lại là một loại phiền não đang gắn chặt trong tâm bạn đó. Khi không còn quán chiếu nữa, tâm bạn sẽ lại quay trở lại vị trí ban đầu và cũng chẳng đạt được cái gì cả.

Tệ hơn nữa, nếu có ai đó nói điều gì ngược với kiến giải của bạn, ngược với tư kiến của bạn, bạn sẽ bắt đầu nổi sùng lên, như lửa đổ thêm dầu.

Vì vậy, hãy bám chặt vào đề mục niệm Buddho của mình. Ngay cả khi bạn không đắc được cái gì đi nữa thì ít nhất bạn cũng phải lấy đề mục niệm đó làm nền tảng cho mình. Những thứ linh tinh thường chiếm giữ tâm bạn sẽ ngày càng bớt dần đi và thậm chí còn mất hẳn, điều đó còn tốt hơn là chẳng có một nền tảng nào cho mình bám víu vào cả.

Thực ra, tất cả mọi thiền sinh đều phải neo chắc vào đề mục niệm của mình. Chỉ khi đó họ mới có thể được coi là đang hành thiền với một nền tảng căn bản. Khi thiền của họ bị suy thoái, thì họ còn có thể sử dụng nó như một chỗ để bám víu, neo đậu vào.

Đức Phật dạy rằng những người đang cố gắng để đoạn trừ phiền não phải hành động như những chiến binh. Thời xưa, các chiến binh phải xây dựng những bức thành rất vững chắc với những bức tường dầy, với những hào nước bao quanh, với những cửa thành và tháp canh để chống đỡ lại những cuộc tấn công của quân địch. Khi một chiến binh ra chiến trường và thấy rằng quân mình không thể địch lại với quân thù, anh ta sẽ rút lui vào trong thành của mình và phòng thủ không cho quân địch phá thành. Đồng thời anh ta cũng chuẩn bị đầy đủ lực lượng, vũ khí và quân lương (củng cố định tâm vững chắc) rồi tiếp tục ra trận chiến đấu với quân thù (là các loại phiền não trong mình).

Định là một sức mạnh rất quan trọng. Nếu không có định, thì sự quán chiếu, phân biện của bạn sẽ lấy đâu ra sức mạnh đây? Sự quán chiếu của thiền tuệ quán không phải là thứ có thể chế tạo ra mà được. Mà thay vào đó, nó sanh khởi từ định tâm đã được làm chủ thuần thục cho đến khi trở thành vững chắc.

Ngay cả đối với những người được cho là đạt tới giác ngộ bằng thiền “khô tuệ” (tức bằng thiền tuệ quán Vipassana thuần túy, không qua con đường thiền chỉ), nếu không có chút định tĩnh nào trong tâm thì họ lấy đâu ra tuệ giác? Trường hợp đó chỉ đơn giản là định của họ chưa được làm chủ một cách hoàn toàn đầy đủ và thuần thục (như người hành thiền chỉ) mà thôi. Chỉ khi chúng ta hiểu theo cách này thì sự việc xem ra mới hợp lý.

Khi định của bạn đã vững chắc đến mức bạn có thể xuất nhập tùy ý, thì khi đó bạn sẽ có thể an trú trong nó trong thời gian dài và quán chiếu những phần thể trược của thân thể mình hay quán chiếu các thành tố vật lý của nó (tứ đại). Hoặc nếu muốn, bạn có thể quán chiếu mọi người trên thế giới này cho đến khi thấy họ chỉ là những bộ xương mà thôi. Hoặc bạn có thể quán cả thế gian này chỉ là hư không…

Một khi tâm bạn đã hoàn toàn tập trung, thì dù khi bạn đang ngồi hay đi, hay đứng, hay nằm, tâm vẫn luôn luôn tập trung trong mọi lúc. Bạn sẽ có thể thấy rõ những phiền não trong mình – tham, sân, si, những thứ sanh khởi từ trong tâm – khởi lên do những nhân này, duyên kia như thế nào, cách nó duy trì theo cách thức này hay cách thức kia ra sao, và bạn sẽ có thể tìm ra được những phương cách để loại bỏ chúng bằng phương pháp này, phương pháp nọ.

Điều này cũng giống như nước trong hồ đã bị vẩn đục từ cả trăm năm nay, bỗng nhiên trong sạch trở lại và bạn có thể nhìn rõ được tất cả mọi thứ dưới đáy hồ – những thứ mà trước kia bạn chưa từng bao giờ nằm mơ thấy nó nữa. Chính điều này được gọi là tuệ giác – thấy tất cả mọi thứ như thực sự chúng đang là. Dù bất cứ thực tại nào chúng có, đó cũng chính là thực tại mà bạn đang thấy, thấy thực sự không hề bẻ cong, bóp méo.

Ép buộc tâm mình để trở nên tĩnh lặng cũng có thể loại bỏ được phiền não, song nó giống như một người cắt cỏ, chỉ cắt phần cỏ mọc trên mặt đất mà không đào tận gốc. Gốc rễ cỏ chắc chắn sẽ mọc trở lại khi mưa xuống. Nói cách khác, bạn thấy được sự nguy hại của những điều du nhập vào mình qua sáu giác quan, nhưng ngay khi vừa thấy nó, bạn đã vội rút lui vào sự tĩnh lặng mà không quán chiếu nó một cách cẩn thận như bạn đã làm khi tâm đang còn trong định. Tức là bạn chỉ muốn thụ hưởng sự vắng lặng trong tâm mà không muốn mất thời gian quán chiếu – giống như một con thằn lằn ru rú trong xó hang của mình để mong được an toàn. Khi vừa thấy kẻ thù tới là nó đã rụt ngay vào trong hang để chỉ trốn tránh nguy hiểm được một lúc nào đó mà thôi.

Nếu muốn nhổ tận gốc rễ phiền não, thì khi thấy phiền não sanh khởi lên từ sáu giác quan – chẳng hạn, mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, thân xúc chạm khiến bạn khởi yêu ghét, thích thú hay chán ghét, và rồi sau đó chấp thủ, nắm giữ chúng, nó khiến tâm bạn u ám, động loạn, buồn đau và đôi khi còn đến mức làm bạn mất ăn, mất ngủ hay thậm chí còn tự tử vì chúng nữa – khi bạn thấy được nó một cách rõ ràng, hãy làm cho tâm định của mình vững chắc và rồi chú tâm hoàn toàn để quán chiếu, xem xét nó. Chẳng hạn, khi mắt thấy hình ảnh đẹp làm cho bạn cảm thấy thích thú, hãy tập trung quán chiếu chính cảm giác thích thú đó, để tìm ra xem nó sanh khởi từ mắt hay từ hình sắc bên ngoài.

Nếu xem xét hình sắc bên ngoài, bạn sẽ thấy nó chỉ là một hiện tượng vật lý mà thôi. Dù nó là tốt hay xấu thì nó cũng không cố thuyết phục bạn phải thích thú hay chán ghét, phải yêu hay ghét nó. Nó chỉ đơn giản là một hình sắc xuất hiện rồi biến mất theo đúng bản chất tự nhiên của nó.

Khi bạn quay sang quán chiếu cái mắt thấy cảnh sắc đó, bạn sẽ thấy rằng mắt bạn đi tìm kiếm các đối tượng và ngay khi vừa tìm được một đối tượng nào đó, ánh sáng sẽ được phản chiếu lên các tế bào thần kinh thị giác và làm cho các hình sắc được xuất hiện. Mắt không cố thuyết phục bạn phải thích thú hay chán ghét, phải yêu hay ghét bất cứ thứ gì. Chức năng của nó chỉ đơn giản là nhìn mà thôi. Một khi nó đã thấy được hình sắc nào đó, thì hình sắc đó rồi cũng biến mất.

Đối với các giác quan khác cùng các đối tượng tương ứng của chúng, dù là đối tượng hấp dẫn hay không, cũng đều phải được xem xét theo cùng một cách như vậy.

Khi bạn quán chiếu theo cách này, bạn sẽ thấy một cách rõ ràng rằng tất cả mọi thứ trên thế gian này trở thành đối tượng của phiền não là do bởi sáu giác quan này. Nếu bạn quán chiếu sáu giác quan này để không bị lôi theo chúng, thì khi đó các phiền não không thể sanh khởi trong bạn được nữa. Thay vào đó, tuệ giác và sự phân biện sẽ sanh khởi, tất cả cũng chính từ sáu giác quan này. Sáu giác quan là nguồn cội của thiện, ác. Chúng ta có được một kiếp sống tương lai hạnh phúc hay đau khổ là phụ thuộc vào cách chúng ta sử dụng sáu giác quan này.

Thế gian này dường như quá rộng lớn là bởi do tâm chúng ta không được định tĩnh, nó buông thả tự do, lang thang với các đối tượng của sáu giác quan. Thế gian sẽ thu hẹp lại khi tâm đã được huấn luyện trong định, để nó nằm dưới sự kiểm soát của bạn và có thể quán chiếu sáu giác quan hoàn toàn trong chính nó. Nói cách khác, khi tâm đã hoàn toàn tập trung, các giác quan bên ngoài – mắt thấy sắc, tai nghe tiếng…- sẽ không còn xuất hiện nữa. Tất cả những gì xuất hiện khi đó chỉ là những hình sắc và âm thanh, là những hiện tượng tâm linh chỉ hiện hữu ở trong định. Bạn sẽ không còn chú ý tới bất cứ thứ gì ở bên ngoài nữa.

Khi sự chú tâm của bạn đã hoàn toàn vững chắc, bạn sẽ có thể quán chiếu thế giới của tâm, chính nó đã làm sanh khởi lên mọi xúc chạm giác quan, tưởng, hành và tất cả các phiền não. Tâm bạn sẽ rút lui khỏi tất cả mọi thứ, chỉ còn lại mỗi chân tâm, mỗi sự hay biết thuần túy mà thôi.

Tâm trí và chân tâm có đặc tính khác nhau. Tâm trí là cái suy nghĩ, tạo tác tưởng và hành đến mức dính mắc và chấp thủ chúng là chính mình. Khi nó đã thấy được đau khổ, sự nguy hiểm và tai hại đến từ việc chấp thủ vào các loại phiền não, nó sẽ rút lui ra khỏi tất cả những phiền não đó. Khi đó tâm trí sẽ là chân tâm. Đây chính là điều khác biệt giữa tâm trí và chân tâm.

Chân tâm là cái trung lập và tĩnh lặng. Nó không hề suy nghĩ. Nó chỉ đơn giản hay biết về sự tĩnh lặng của mình. Chân tâm chính là cái trung tâm, cái trung lập đích thực. Trung lập với tất cả, không quá khứ, chẳng tương lai, không tốt, chẳng xấu: đó chính là chân tâm. Khi chúng ta nói về tâm điểm của mọi thứ, chúng ta muốn nói rằng nó là trung tâm. Ngay cả tâm của con người, đó là một thứ thuộc về phần tâm linh, mà chúng ta cũng nói là nó nằm ngay giữa lồng ngực. Nhưng chân tâm thực sự nằm ở đâu, chúng ta không hề biết. Hãy thử chú tâm vào bất kỳ bộ phận nào trên cơ thể mà xem, bạn sẽ cảm thấy có sự hay biết ở điểm đó. Hay nếu bạn chú tâm ra bên ngoài cơ thể – chú ý vào một điểm mốc hay ngôi tường của một ngôi nhà chẳng hạn – thì đó cũng chính là điểm mà bạn hay biết.

Do đó chúng ta có thể nói rằng, chân tâm đích thực chính là sự hay biết tĩnh lặng và trung lập. Nơi nào có sự chánh niệm trung lập, thì nơi đó có chân tâm.

Khi mọi người nói về trái tim một cách chung chung, đó không phải là chân tâm. Nó chỉ đơn giản là một hệ thống cơ bắp và van tim để bơm máu đi nuôi cơ thể mà thôi. Nếu nó không bơm máu đi khắp cơ thể như vậy thì bạn đã không thể sống được. Não bộ cũng như thế. Tâm chúng ta nghĩ đến thiện và ác, sử dụng não như một công cụ mà thôi. Hệ thống thần kinh trong não bộ chỉ là một cơ quan vật lý. Khi những nhân duyên, điều kiện khiến chúng tồn tại bị cắt ngang, thì cơ quan vật lý này cũng không thể tồn tại. Nó phải ngừng hoạt động.

Nhưng đối với tâm, một phần thuộc tâm linh, Đạo Phật dạy rằng nó sẽ vẫn còn tiếp tục tồn tại và có thể tiếp tục sanh lại nữa. Phần tâm linh này chỉ ngừng lại khi tuệ giác phân biện các nguyên nhân khiến chúng sanh lên và nhổ rễ hoàn toàn những nguyên nhân ẩn tàng đó.

Không có ngành khoa học nào trên thế giới này đạt tới điểm tận cùng cả. Bạn càng nghiên cứu, chúng lại càng mở rộng ra thêm. Chỉ có Đạo Phật mới có thể dạy bạn đạt tới điểm chấm dứt cuối cùng đó. Trong giai đoạn đầu tiên, Đạo Phật dạy chúng ta hãy tìm hiểu về cơ thể mình, để thấy nó được cấu tạo thành từ 32 thể trược như thế nào và chức năng của chúng ra sao. Đồng thời, Đạo Phật cũng dạy chúng ta thấy ra rằng thân này rõ ràng chẳng có gì đáng ham thích. Đạo Phật dạy chúng ta hiểu biết thế giới này (thế giới loài người này), được tạo nên từ đau khổ mà cuối cùng cũng phải tan hoại theo đúng bản chất tự nhiên của nó.

Giờ đây, chúng ta đã nhận thức được cái thân này – mặc dù nó đầy bất tịnh và đáng nhờm gớm, và mặc dù nó được tạo nên bởi đủ loại khổ đau – nhưng chúng ta vẫn có thể nương tựa vào nó để sống trong một lúc nào đó, vì vậy chúng ta cần phải tận dụng nó để làm những việc tốt đẹp, để trả món nợ đời trước khi rời bỏ nó khi cái chết đến bên mình.

Đức Phật dạy rằng mặc dù bản chất tự nhiên của con người (và cả thế giới này) là phải tan hoại và chết, song cái tâm của họ vẫn cứ phải quay trở lại tái sinh chừng nào nó vẫn còn phiền não. Do đó, Ngài đã dạy chúng ta thực hành thiền định, đó là một công việc hoàn toàn thuộc về tâm. Một khi đã thực hành thiền định, chúng ta sẽ cảm nhận được tất cả mọi cảm giác xúc chạm bên trong, ở ngay trong tâm chúng ta. Chúng ta sẽ không còn phải quan tâm đến cái nhìn, cái nghe ở mắt hay ở tai nữa. Mà thay vào đó, chúng ta sẽ cảm nhận được sự xúc chạm đó ngay chính trong tâm mình. Đây chính là ý nghĩa của việc thu hẹp thế gian quanh mình.

Các giác quan là công cụ tốt nhất để đo lường cái tâm của mình. Khi một sự xúc chạm giác quan nào đó đến với tâm ta, liệu nó có tác động đến bạn hay không? Nếu nó có rất nhiều tác động, điều đó cho thấy chánh niệm của bạn còn rất yếu và nền tảng của bạn vẫn còn dễ bị lung lay. Nếu nó chỉ tác động rất ít, hay không hề tác động gì đến bạn cả, thì điều đó cho thấy chánh niệm của bạn mạnh và bạn đã hoàn toàn có thể tự chăm lo đến cho bản thân mình được rồi. 

Đề-bà-đạt-đa, con người đã tạo ra bao nhiêu là rắc rối cho Đức Bồ Tát trong suốt con đường tu của ngài, nếu không có ông ta, ắt là Đức Bồ Tát đã không thể hoàn thiện được đầy đủ các Balamật của mình đến viên mãn. Chỉ khi Ngài đã hoàn thành đầy đủ, viên mãn các Balamật đó thì mới có thể đạt tới giác ngộ và trở thành Phật. Trước khi giác ngộ, Ngài đã phải chống lại cả một binh đoàn cám dỗ to lớn, và ngay sau khi Ngài giác ngộ, ba con gái của Ma vương vẫn còn tiếp tục đến cám dỗ Ngài thêm một lần nữa. Từ thời khắc chiến thắng huy hoàng đó, tất cả mọi con người trên thế gian này đã ca ngợi, tán thán ngài, người đã vượt qua được tất cả mọi phiền não trên thế gian, một lần và mãi mãi.

Chừng nào các giác quan bên trong vẫn còn hiện hữu, chừng đó sự xúc chạm trong tâm vẫn còn chiếm giữ tâm trí chúng ta. Vì thế, những con người thiện trí, thấy ra sự nguy hiểm và tai hại của những điều này, đã sẵn sàng từ bỏ chúng, chỉ để lại một chân tâm trung lập … không thiên vị…, không suy nghĩ, không tưởng tượng, không phóng chiếu về bất cứ thứ gì. Nếu làm được như thế thì thế gian này còn tạo thành được ở nơi đâu nữa? Đây chính là cách Đức Phật dạy chúng ta để đạt tới nơi mà thế gian này chấm dứt.

Rừng thiền Viên Không,

tháng 12/2006

Bình Luận Facebook

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *