Phần 10

Mỹ-Nhân-Kế

Quân-sư Kevaṭṭa nghĩ đến Công-chúa Pañcālacandī của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta và Chánh-cung Hoàng-hậu Nandādevī: 

“Công-chúa có sắc đẹp tuyệt trần như một thiên-nữ. Vậy, ta nên lợi dụng sắc đẹp của Công-chúa Pañcālacandī làm mỹ-nhân-kế, dụ Đức-vua Vedeha ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla để làm lễ thành hôn với Công-chúa Pañcālacandī, chắc chắn có Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita cùng đi theo hộ giá.

Như vậy, họ ví như nai bị mắc bẫy, cá bị cắn câu.

Khi ấy, ta sẽ bắt Vua Vedeha và Mahosadhapaṇḍita đem ra chém đầu, rồi sẽ làm đại lễ uống rượu ăn mừng chiến thắng toàn cõi Nam-thiện-bộ-châu này.”

Sau khi nghĩ xong, quân-sư Kevaṭṭa đến chầu Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, tâu rằng:

Tâu Chúa-thượng, hạ thần có một kế hay, xin tâu cho Chúa-thượng rõ.

Nghe quân-sư Kevaṭṭa tâu như vậy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta truyền hỏi rằng:

Này quân-sư, quân-sư đã hiến bao nhiêu kế đều thất bại thê thảm, bỏ chạy trốn thoát thân. Nay, quân-sư còn bày ra kế gì nữa đây!

Tâu Chúa-thượng, kế này thật là diệu kế, cũng là thượng sách nữa!

Này quân-sư, nếu vậy thì hãy tâu cho Trẫm rõ.

Tâu Chúa-thượng, xin Chúa-thượng đến một chỗ vắng vẻ, chỉ có Chúa-thượng và hạ thần mà thôi, hạ thần sẽ tâu cho Chúa-thượng rõ.

Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta chuẩn tấu. Đức-vua ngự lên trên lâu đài cùng với quân-sư Kevaṭṭa tại căn phòng ngủ của Đức-vua, nơi cửa sổ có con sáo mái Sāḷikā nói và nghe hiểu được tiếng người. Quân-sư Kevaṭṭa tâu rằng:

Tâu Chúa-thượng, Công-chúa Pañcālacandī của Chúa-thượng có sắc đẹp tuyệt trần như một thiên-nữ. Chúa-thượng nương nhờ Công-chúa Pañcālacandī làm mỹ-nhân-kế dụ Đức-vua Vedeha ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla để làm lễ thành hôn, chắc chắn Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita đi theo hộ giá.

Như vậy, hai người ấy ở trong tay của ta, ví như nai bị mắc bẫy, cá bị cắn câu, không còn đường nào trốn thoát được nữa.

Chúa-thượng truyền lệnh bắt Đức-vua Vedeha và Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita đem ra chém đầu, để trả thù, rồi Chúa-thượng truyền lệnh tổ chức đại lễ uống rượu, ăn mừng chiến thắng trong toàn cõi Nam-thiện-bộ-châu này.

Khi ấy, Chúa-thượng đương nhiên sẽ được suy tôn là Đại-vương cao cả nhất (aggamahārājā), làm bá chủ trong cõi Nam-thiện-bộ-châu này.

Tâu Chúa-thượng, ban đầu truyền gọi các thi sĩ vào cung, nhìn thấy Công-chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ, họ sẽ làm thơ, ca hát tán dương, ca tụng sắc đẹp tuyệt trần của Công-chúa; truyền cho đoàn ca hát, nhảy múa tán dương, ca tụng sắc đẹp tuyệt trần của Công-chúa từ kinh-thành Uttarapañcāla cho đến kinh-thành Mithilā.

Đoàn ca múa xin vào cung điện trình diễn ca hát, nhảy múa, tán dương, ca tụng Công-chúa Pañcālacandī có sắc đẹp tuyệt trần như thiên-nữ cho Đức-vua Vedeha thưởng thức, gợi cho Đức-vua mong ước được Công-chúa làm Chánh-cung Hoàng-hậu.

Khi ấy, hạ thần sẽ làm sứ giả đến kinh-thành Mithilā, xin chầu Đức-vua Vedeha, tâu rằng:

“- Tâu Đại-vương Vedeha, Chúa-thượng của hạ thần là Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta nhận xét thấy Đại-vương là người xứng đáng nên muốn ban Công-chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ cho Đại-vương để làm Chánh-cung Hoàng-hậu.

Kính xin Đại-vương chọn ngày ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla để cử hành hôn lễ với Công-chúa Pañcālacandī, rồi đón rước về kinh-thành Mithilā, để làm Chánh-cung Hoàng-hậu của Đại-vương.”

Khi Đức-vua Vedeha ngự đến kinh-thành Uttara-pañcāla thì chắc chắn Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita sẽ đi theo hộ giá.

Như vậy, hai người ấy sẽ mắc vào mỹ-nhân-kế của chúng ta.

Nghe quân-sư Kevaṭṭa bày ra mỹ-nhân-kế này, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta vốn có tâm tham vọng làm bá chủ trong cõi Nam-thiện-bộ-châu nên nghĩ rằng: “Đó là diệu kế”. Vì vậy, Đức-vua truyền bảo rằng:

Thưa Quân-sư, Trẫm xin chuẩn tấu, quân-sư hãy thực hiện mỹ-nhân-kế này một cách rất khéo léo và bí mật tuyệt đối!

Sau khi được Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta chuẩn tấu mỹ-nhân-kế ấy, quân-sư Kevaṭṭa thực hiện từng giai đoạn theo kế sách. Cuối cùng một đoàn ca hát, nhảy múa gồm tòan các nghệ sĩ ưu tú, các nhạc công ưu tú, cho nên đoàn ca múa này đi trình diễn được nổi tiếng từ kinh-thành Uttarapañcāla cho đến kinh-thành Mithilā, đến tai của Đức-vua Vedeha.

Đức-vua Vedeha vốn ham mê ngũ-dục (sắc-dục, thanh-dục, hương-dục, vị-dục, xúc-dục), nên khi nghe nói có đoàn ca múa hay nổi tiếng như thế ấy, Đức-vua Vedeha truyền cho mời vào cung điện để trình diễn. 

Đoàn ca múa ấy ca hát tán dương, ca tụng Đức-vua Vedeha với lời hay, ý đẹp làm cho Đức-vua vô cùng hoan hỷ khen ngợi. Đoàn ca múa tán dương, ca tụng Công-chúa Pañcālacandī có sắc đẹp tuyệt trần như thiên-nữ, gợi cho Đức-vua Vedeha nghe say mê, mong ước có được Công-chúa làm Chánh-cung Hoàng-hậu của mình.

Đức-vua Vedeha vô cùng hoan hỷ ban thưởng cho đoàn ca hát ấy các phần thưởng quý giá. Sau đó họ trở về kinh-thành Uttarapañcāla, vào chầu Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta tâu trình rằng:

Muôn tâu Đại-vương, chúng thần được mời vào cung điện của Đức-vua Vedeha, trình diễn các bài hát tán dương, ca tụng Đức-vua Vedeha, tán dương, ca tụng Công-chúa Pañcālacandī có sắc đẹp tuyệt trần như thiên-nữ làm cho Đức-vua Vedeha cảm thấy hài lòng, vô cùng hoan hỷ, nên đã ban thưởng cho chúng thần những phần thưởng quý giá.

Nghe đoàn ca múa tâu trình như vậy, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta rất hài lòng, hoan hỷ cho gọi quân-sư Kevaṭṭa đến truyền bảo rằng:

Thưa quân-sư, kế sách của quân-sư phần đầu đã có kết quả. Nay, xin quân-sư lãnh sứ mạng làm sứ giả đến kinh-thành Mithilā, chầu Đức-vua Vedeha, tâu lời của Trẫm theo kế sách của quân-sư.

Tuân lệnh Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, quân-sư Kevaṭṭa đem theo những món quà quý giá cùng đoàn tùy tùng đông đảo lên đường đến kinh-thành Mithilā.

Trước khi đến kinh-thành Mithilā, quân-sư Kevaṭṭa đã cho người loan tin cho dân chúng trong kinh-thành Mithilā biết rằng:

“Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta muốn kết tình thân thiện với Đức-vua Vedeha, nên Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta sẽ ban Công-chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ cho Đức-vua Vedeha làm Chánh-cung Hoàng-hậu, để kết tình thân hữu giữa kinh-thành Uttarapañcāla với kinh-thành Mithilā và hai đất nước Kapilaraṭṭha với Videharaṭṭha trong tình thân thiện lẫn nhau, thần dân thiên hạ của hai đất nước sống trong cảnh thanh bình an lạc.”

Nghe tin như vậy, Đức-vua Vedeha rất hài lòng vô cùng hoan hỷ. Còn Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita không hài lòng chút nào, vì biết chắc chắn Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta bày ra mỹ-nhân-kế thâm độc, để dụ dỗ, đánh lừa Đức-vua Vedeha.

Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita gửi tin hỏi người lính điệp viên của mình, để biết rõ mỹ-nhân-kế của quân-sư Kevaṭṭa, thì được thư trả lời rằng:

“Thưa quan Thừa-tướng, chúng tôi không biết rõ được mỹ-nhân-kế của quân-sư Kevaṭṭa mà chỉ biết rõ Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta và quân-sư Kevaṭṭa bàn bạc chuyện bí mật trên lâu đài trong phòng ngủ của Đức-vua, mà tại cửa sổ phòng ngủ của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta có con sáo mái Sāḷikā biết nghe và nói tiếng người, chắc chắn con sáo mái Sāḷikā đã nghe được chuyện bí mật ấy.”

Đoàn sứ giả do quân-sư Kevaṭṭa dẫn đầu và tuỳ tùng đông đảo đến kinh-thành Mithilā, xin phép đến chầu Đức-vua Vedeha. Sứ giả Kevaṭṭa đảnh lễ Đức-vua Vedeha rồi kính dâng quà của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta lên Đức-vua Vedeha. Sứ giả Kevaṭṭa ngồi một nơi hợp lẽ, vấn an Đức-vua Vedeha theo nghi lễ và Đức-vua Vedeha kính lời cảm tạ Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta. 

Khi ấy, sứ giả Kevaṭṭa tâu với Đức-vua Vedeha rằng:

Tâu Đại-vương, Chúa-thượng của hạ thần là Đại-vương Cūḷanī Brahmadatta nhận xét thấy Đại-vương là người xứng đáng kết tình thân thiện, nên muốn ban Công-chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ cho Đại-vương làm Chánh-cung Hoàng-hậu, để kết tình thân hữu giữa kinh-thành Uttarapañcāla với kinh-thành Mithilā và hai đất nước Kapilaraṭṭha với Videha-raṭṭha kết tình thân thiện lẫn nhau, thần dân thiên hạ của hai đất nước sống trong cảnh thanh bình an lạc.

Tâu Đại-vương, Đại-vương Cūḷanī Brahmadatta xin mời Đại-vương chọn ngày ngự đến kinh-thành Uttara-pañcāla, để làm lễ thành hôn với Công-chúa Pañcāla-candī xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ, rồi đón rước Công-chúa ngự trở về kinh-thành Mithilā này.

Nghe sứ giả Kevaṭṭa tâu như vậy, Đức-vua Vedeha vô cùng hoan hỷ nghe đến câu “ban Công-chúa Pañcāla-candī xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ”, nên Đức-vua Vedeha truyền bảo với sứ giả Kevaṭṭa rằng:

Này sứ giả, Quả-nhân vô cùng cảm kích trước tấm lòng tốt của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta đối với Quả-nhân. Quả-nhân chân thành cảm tạ Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta và sứ giả đã vất vả đến đây, để đem lại sự lợi ích, sự an lạc cho Quả-nhân, cho toàn thể dân chúng đất nước Videharaṭṭha và đất nước Kapilaraṭṭha trong tình thân thiện, sống trong cảnh thanh bình an lạc.

Này sứ giả, để xoá bỏ những lỗi quá khứ giữa sứ giả với Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita. Xin mời sứ giả đến thăm Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita, để bỏ lỗi lẫn nhau, thông cảm và hòa hợp với nhau trong tình thân hữu giữa hai người với nhau. 

Nghe lời khuyên của Đức-vua Vedeha, sứ giả Kevaṭṭa đi đến tư dinh thăm quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita.

Biết sứ giả Kevaṭṭa đến tư dinh của mình, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita nghĩ rằng:

“Ta không nên đón tiếp, nói chuyện với kẻ ác như sứ giả Kevaṭṭa ấy.”

Do nghĩ như vậy, nên sáng hôm ấy, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita dùng một ít bơ lỏng, rồi bảo gia nhân đem phần bơ lỏng còn lại đổ rải khắp nền nhà, dẹp các ghế ngồi chỉ còn lại chiếc giường Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita đang nằm mà thôi.

Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita căn dặn nhóm gia nhân:

“Hãy tiếp sứ giả Kevaṭṭa với thái độ khinh bỉ. Nếu khi Kevaṭṭa muốn hỏi chuyện với ta thì các người hãy ngăn cản y không cho hỏi chuyện, bởi vì hôm nay quan Thừa-tướng dùng bơ lỏng, và nếu ta làm bộ nói chuyện với Kevaṭṭa thì các người cũng ngăn cản ta không cho nói chuyện, bởi vì hôm nay quan Thừa-tướng dùng bơ lỏng.”

Sau khi căn dặn nhóm gia nhân xong, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita mặc bộ y phục màu đỏ, nằm trên gường bệnh.

Khi ấy, sứ giả Kevaṭṭa đến đứng trước cổng thứ nhất tư dinh của Đức-Bồ-tát, hỏi người lính gác cổng rằng:

Này ngươi! Quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita có trong dinh không?

Người gác cổng thứ nhất bảo rằng:

Này Bà-la-môn Kevaṭṭa! Ngươi chớ nên nói lớn tiếng, ta cho phép ngươi làm thinh đi vào.

Sứ giả Kevaṭṭa đi vào tuần tự đến cổng số hai cho đến cổng số bảy tư dinh của Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, các lính gác cổng đều đối xử khinh bỉ như vậy. 

Sứ giả Kevaṭṭa đến chỗ Đức-Bồ-tát Mahosadha-paṇḍita đang nằm, không có chỗ ngồi, nên sứ-giả Kevaṭṭa phải đứng, muốn hỏi chuyện Đức-Bồ-tát Maho-sadhapaṇḍita thì gia nhân ngăn cản rằng:

Này Bà-la-môn Kevaṭṭa! Ngươi không nên hỏi chuyện quan Thừa-tướng, bởi vì hôm nay quan Thừa-tướng của chúng tôi dùng bơ lỏng.

Khi Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita làm bộ muốn nói chuyện với sứ giả Kevaṭṭa thì nhóm gia nhân ngăn cản Đức-Bồ-tát không cho nói chuyện, vì hôm nay quan Thừa-tướng đại-nhân dùng bơ lỏng.

Sứ giả Kevaṭṭa đến thăm Thừa-tướng Mahosadha-paṇḍita, không có chỗ ngồi, đứng trên sàn nhà dính bơ lỏng, mọi người trong tư dinh đều tỏ ra khinh bỉ, nên sứ giả Kevaṭṭa cảm thấy xấu hổ, xin phép trở về. Một gia nhân mắng rằng:

Này tên Bà-la-môn Kevaṭṭa ác nhân kia! Hãy đi ra.

Sứ giả Kevaṭṭa hoảng sợ, trở về cung điện. Đức-vua Vedeha nghĩ rằng:

“Hôm nay, nghe sứ giả Kevaṭṭa báo tin về sứ mạng chuyến đi này, Mahosadhapaṇḍita chắc chắn vui mừng hoan hỷ lắm. Hai bậc đại-trí chuyện trò thân mật bỏ lỗi lẫn nhau. Thật là điều hạnh phúc an lạc cho ta biết dường nào!”

Vì nghĩ như vậy, nên khi nhìn thấy sứ giả Kevaṭṭa trở về, Đức-vua Vedeha truyền hỏi rằng:

Thưa sứ giả, sứ giả đã gặp quan Thừa-tướng Maho-sadhapaṇḍita rồi, quan Thừa-tướng chắc chắn đã xin lỗi sứ giả và sứ giả đã bỏ lỗi cho quan Thừa-tướng. Hai bên đã bỏ lỗi cho nhau. Khi nghe sứ giả báo tin về sứ mạng chuyến đi này, chắc chắn quan Thừa-tướng vui mừng hoan hỷ lắm phải không? 

Quân-sư Kevaṭṭa tâu rằng:

Tâu Đại-vương Vedeha, kính xin Đại-vương không nên nói đến quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita ấy nữa. Ông là con người đần độn, không đáng gọi là bậc đại-trí, vì y không nói một lời nào, y chỉ giống như người câm, người điếc mà thôi.

Nghe sứ giả Kevaṭṭa nói xấu quan Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita, Đức-vua Vedeha làm thinh, không đồng tình cũng không phản đối. Đức-vua Vedeha mời sứ giả Kevaṭṭa cùng đoàn tuỳ tùng về chỗ nghỉ ngơi. Đức-vua Vedeha suy xét rằng:

“Mahosadhapaṇḍita là bậc đại-trí, có trí-tuệ siêu-việt, là người tài ba lỗi lạc trong phép xã giao. Vậy, tại sao Mahosadhapaṇḍita lại không nói một lời nào với sứ giả Kevaṭṭa, không tỏ ra hoan hỷ trong sự có mặt của sứ giả Kevaṭṭa.

Như vậy, Mahosadhapaṇḍita chắc chắn đã thấy rõ, được mưu kế thâm độc của sứ giả rồi, nên mới tỏ ra thái độ như vậy. Mahosadhapaṇḍita con của ta là bậc đại-trí có trí-tuệ siêu-việt thấy rõ, biết rõ quá-khứ, hiện- tại, vị-lai mà những người khác không dễ gì thấy được, biết được. Cho nên, Mahosadhapaṇḍita chắc chắn biết rõ được mưu kế thâm độc của quân-sư Kevaṭṭa đến đây mời ta ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla, để làm lễ thành hôn với Công-chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ.

Nếu đó là mưu kế thâm độc của quân-sư Kevaṭṭa đem Công-chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ để dụ dỗ ta, khi ta rời khỏi kinh-thành Mithilā này, ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla, thì có khác nào ta đã lọt vào tay của kẻ thù xưa, sự sống hoặc sự chết của ta như thế nào làm sao biết được?” 

Suy nghĩ về sự việc như vậy, Đức-vua Vedeha cảm thấy rùng mình, phát sinh sợ hãi. Khi ấy, bốn vị quân-sư đến chầu, Đức-vua truyền hỏi rằng:

Này quân-sư Senaka, Trẫm có nên ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla, để làm lễ thành hôn với Công-chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta hay không? Quân-sư nghĩ thế nào, hãy tâu cho Trẫm rõ.

Quân-sư Senaka tâu rằng:

Tâu Bệ-hạ, điều hạnh phúc đã đến với Bệ-hạ, kính xin Bệ-hạ đón nhận. Đây là cơ hội tốt nhất đối với Bệ-hạ. Bệ-hạ nên ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla, để làm lễ thành hôn với Công-chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ của Đức-vua Cūḷanī Brahma-datta. Đó là cơ hội tốt nhất, cũng là điều vinh dự nhất đối với Bệ-hạ.

Hiện nay, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta là một Đại-vương cao cả nhất trong cõi Nam-thiện-bộ-châu này, còn 101 Đức-vua của 101 đất nước kia là chư hầu của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta. Vì vậy, chỉ có Bệ-hạ ngự tại kinh-thành Mithilā trị vì nước Videharaṭṭha là không phải nước chư hầu của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta mà thôi. Xét thấy Bệ-hạ là Đức-vua xứng đáng, nên Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta ban Công-chúa Pañcāla-candī xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ đến Bệ-hạ, để làm Chánh-cung Hoàng-hậu của Bệ-hạ.

Kính xin Bệ-hạ nên thuận theo thiện ý của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta đối với Bệ-hạ, để kết tình thân hữu giữa kinh-thành Uttarapañcāla với kinh-thành Mithilā và hai đất nước Kapilaraṭṭha với Videharaṭṭha trong tình thân thiện lẫn nhau, để thần dân thiên hạ của hai nước sống trong cảnh thanh bình an-lạc. 

Vậy, kính xin Bệ-hạ nên chọn ngày ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla, để làm lễ thành hôn với Công-chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ, rồi rước về kinh-thành Mithilā.

Chúng thần sẽ có cơ hội theo hộ giá Bệ-hạ, cũng sẽ được Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta biếu những phẩm vật quý giá.

Tiếp theo, Đức-vua Vedeha truyền hỏi ba vị quân-sư còn lại, ba vị quân-sư ấy cũng đều tâu giống như quân-sư Senaka rằng:

Tâu Bệ-hạ, kính xin Bệ-hạ nên ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla, để làm lễ thành hôn với Công-chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ, để làm Chánh-cung Hoàng-hậu của Bệ-hạ.

Đức-vua Vedeha đang truyền hỏi bốn vị quân-sư thì sứ giả Kevaṭṭa đến chầu Đức-vua Vedeha, tâu rằng:

Tâu Đại-vương, hạ thần không thể ở lâu hơn nữa, xin phép Đại-vương trở về kinh-thành Uttarapañcāla.

Kính xin Đại-vương chọn ngày ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla. Đại-vương truyền gửi sứ giả đến tâu lên Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta được rõ.

Đức-vua Vedeha ban những phẩm vật quý giá đến sứ giả Kevaṭṭa và đoàn tùy tùng rồi tiễn đưa họ trở về kinh-thành Uttarapañcāla.

Biết sứ giả Kevaṭṭa đã rời khỏi kinh-thành Mithilā trở về kinh-thành Uttarapañcāla, Đức-Bồ-tát Mahosadha-paṇḍita đến chầu Đức-vua Vedeha, đảnh lễ rồi ngồi một nơi hợp lẽ.

Trước đây, Đức-vua Vedeha một mình suy xét đúng đắn, sau khi gặp bốn vị quân-sư thiểu trí si-mê, nên Đức-vua lại thay đổi ý nghĩ trước, do năng lực của tâm tham-ái làm cho Đức-vua trở thành người say mê trong ngũ-dục, nên truyền hỏi Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita rằng:

Này Mahosadhapaṇḍita! Chúng ta gồm có sáu người: Trẫm, quân-sư Kevaṭṭa và bốn quân-sư đều là bậc đại-trí đồng có ý kiến với nhau rằng: “Trẫm nên chọn ngày ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla, để làm lễ thành hôn với Công-chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, rồi rước về làm Chánh-cung Hoàng-hậu của Trẫm.”

Này Mahosadhapaṇḍita! Con có ý kiến như thế nào? Con hãy tâu cho Phụ-vương rõ.

Nghe Đức-vua Vedeha truyền hỏi như vậy, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita nghĩ rằng:

“Đức-vua Vedeha đã tin lời sứ giả Kevaṭṭa và bốn vị quân-sư thiểu trí si-mê, rồi say mê Công-chúa Pañcāla-candī mà không thấy Công-chúa chỉ là miếng mồi để dụ Đức-vua ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla, để sát hại Đức-vua Vedeha chứ không phải để làm lễ thành hôn với Công-chúa. Ta sẽ tâu cho Đức-vua nhận thức thấy rõ sự thật như vậy mà thay đổi ý, không dám ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla nữa.”

Nghĩ xong, Đức-Bồ-tát tâu với Đức-vua Vedeha rằng:

Tâu Đại-vương, Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta đem Công-chúa Pañcālacandī làm mồi dụ Đại-vương ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla, để sát hại Đại-vương, chứ không phải để làm lễ thành hôn với Công-chúa xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ, như sứ giả Kevaṭṭa tâu với Đại-vương. Đó chỉ là “mỹ-nhân-kế” của sứ giả Kevaṭṭa mà thôi.

Ví như người thợ săn đem con nai cái ra để lừa con nai đực say mê rồi mắc bẫy của y; người câu cá móc miếng mồi ngon bao bọc lưỡi câu để lừa con cá mê mồi nuốt phải lưỡi câu vào bụng, không biết sự chết đến với mình. 

Tâu Đại-vương, Công-chúa Pañcālacandī ví như con nai cái của người thợ săn, cũng ví như miếng mồi ngon bao bọc lưỡi câu của người câu cá.

Nếu Đại-vương say mê Công-chúa mà ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla thì Đại-vương chắc chắn sẽ bị bắt rồi bị chém đầu ngay tức thì.

Tâu Đại-vương, hạ thần đã thấy rõ “mỹ-nhân-kế” của quân-sư Kevaṭṭa dụ Đại-vương ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla để giết Đại-vương.

Vậy, kính xin Đại-vương có trí-tuệ sáng suốt nhận thức rõ tai họa ấy mà thay đổi ý, không nên ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla nữa.

Nghe Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu rõ sự thật như vậy, nhưng Đức-vua Vedeha vẫn chấp thủ nên nổi cơn thịnh nộ, nghĩ rằng:

“Mahosadhapaṇḍita coi thường ta, không còn tôn trọng ta là Đức-vua nữa. Chính sứ giả Kevaṭṭa đã tâu với ta rằng: “Tâu Đại-vương, Chúa-thượng của hạ thần là Đại-vương Cūḷanī Brahmadatta nhận xét thấy Đại-vương là người xứng đáng kết tình thân thiện, nên muốn ban Công-chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ cho Đại-vương để làm Chánh-cung Hoàng-hậu, để kết tình thân hữu giữa kinh-thành Uttarapañcāla với kinh-thành Mithilā và hai đất nước Kapilaraṭṭha với Videharaṭṭha kết tình thân thiện lẫn nhau, thần dân thiên hạ của hai đất nước sống trong cảnh thanh bình an-lạc.

Đại-vương Cūḷanī Brahmadatta xin mời Đại-vương chọn ngày ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla, để làm lễ thành hôn với Công-chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ, rồi đón rước Công-chúa ngự trở về kinh-thành Mithilā này.” 

Sau khi nhớ lại lời tâu của sứ giả Kevaṭṭa như vậy, Đức-vua Vedeha nổi cơn thịnh nộ truyền bảo rằng:

Này Mahosadhapaṇḍita! Ngươi dám coi thường Trẫm, ví Trẫm như con nai đực say mê con nai cái, như con cá say mê miếng mồi.

Này Mahosadhapaṇḍita! Ngươi là con trai sống trong xóm nhà vùng lúa, chỉ biết cày ruộng mà thôi. Làm sao ngươi có thể biết được sự hạnh phúc an-lạc đế vương như sứ giả Kevaṭṭa và bốn vị quân-sư của Trẫm được.

Mahosadhapaṇḍita này làm cản trở sự hạnh phúc an-lạc của Trẫm, cản trở Trẫm làm lễ thành hôn với Công-chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta.

Vậy, các khanh hãy tống cổ nó ra khỏi nơi này, các khanh hãy đuổi nó ra khỏi đất nước của Trẫm, bởi Mahosadhapaṇḍita không giúp Trẫm làm lễ thành hôn với Công-chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ, mà còn cản trở không muốn Trẫm ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla.

Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita biết rằng: “Đức-vua Vedeha truyền bảo như vậy trong cơn thịnh nộ, nhưng thật ra, Đức-vua rất thương yêu, nên Đức-Bồ-tát đảnh lễ Đức-vua rồi xin phép trở về tư dinh của mình.”

Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita nghĩ rằng: “Vì nghe những lời tán dương, ca tụng Công-chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần như thiên-nữ, nên Đức-vua phát sinh tâm tham-ái, say mê Công-chúa Pañcālacandī mà không biết đến sự tai hoạ sẽ xảy ra đến với mình. Ta phải tìm cách phá mỹ-nhân-kế của quân-sư Kevaṭṭa này và cố gắng giúp cho Đức Phụ-vương của ta được toại nguyện như ý, làm lễ thành hôn với Công-chúa Pañcālacandī, rồi rước về làm Chánh-cung Hoàng-hậu. Bởi vì, Đức-vua là Đức Phụ-vương của ta, đã nuôi dưỡng ta từ khi mới lên bảy tuổi cho đến nay, đã ban cho ta chức trọng quyền cao nhất, quan Thừa-tướng (senāpati) trong triều đình.

Vậy, ta phải có bổn phận bảo vệ Đức-vua cho được an tòan sinh-mạng và giúp cho Đức-vua làm lễ thành hôn với Công-chúa Pañcālacandī cho được toại nguyện như ý.

Trước tiên, ta cần phải nhờ con vẹt Suvapaṇḍita (con vẹt trí-tuệ) bay đi do thám tìm hiểu sự thật như thế nào.”

Nghĩ xong Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita gọi con vẹt Suvapaṇḍita, bảo rằng:

Này Suvapaṇḍita con yêu quý! Ta nhờ con giúp một việc, vì việc này loài người không thể làm được.

Con vẹt Suvapaṇḍita thưa rằng:

Kính thưa Ông chủ, Ông chủ muốn cho con giúp việc gì vậy?

Này Suvapaṇḍita yêu quý! Ta được người lính điệp viên bảo rằng: “Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta và quân-sư Kevaṭṭa bàn bạc chuyện bí mật trong phòng ngủ của Đức-vua trên lâu đài, chỉ có hai người biết mà thôi, tại cửa sổ phòng ngủ của Đức-vua có con sáo mái Sāḷikā biết nghe và nói tiếng người, chắc chắn con sáo mái Sāḷikā sẽ nghe được chuyện bí mật ấy.”

Bây giờ, ta nhờ con bay đến gặp con sáo mái Sāḷikā ấy, con khéo tán tỉnh rồi tỏ tình yêu thương tha thiết với nó, rồi hỏi nó về chuyện bí mật của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta và quân-sư Kevaṭṭa cho đầy đủ. Con cẩn thận đừng để cho ai biết, nếu có ai biết được thì sinh-mạng của con không được an toàn đâu nhé! 

Con Vẹt Suvapaṇḍita Với Con Sáo Mái Sāḷikā

Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita lấy dầu thoa đôi cánh, thân mình rồi cho con vẹt Suvapaṇḍita ăn uống những thứ đồ ăn bổ dưỡng. Con vẹt Suvapaṇḍita đảnh lễ Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, rồi bay nhanh như gió đến kinh-thành Ariṭṭhā trong nước Sivi. Từ đó, con vẹt Suvapaṇḍita bay đến kinh-thành Uttarapañcāla, đậu một chỗ cao trên lâu đài, gần chỗ ở của con sáo mái Sāḷikā, đứng trên đỉnh hót ra âm thanh hay ngọt ngào yêu thương quyến rũ. Con sáo mái Sāḷikā nghe hiểu rõ rồi trả lời với giọng ngọt ngào yêu thương, mời mọc đến.

Con vẹt Suvapaṇḍita bay đến đứng gần hỏi thăm con sáo mái Sāḷikā rằng:

Này bạn Sāḷikā yêu quý! Bạn có được khoẻ mạnh không? Hằng ngày bạn có được vật thực ngon lành đầy đủ chứ?

Này bạn Suvapaṇḍita! Tôi vẫn được khoẻ mạnh, hằng ngày tôi vẫn được những thứ vật thực ngon lành đầy đủ.

Này bạn Suvapaṇḍita! Bạn từ đâu đến đây? Ai bảo bạn đến đây?

Nghe con sáo mái Sāḷikā hỏi như vậy, con vẹt Suvapaṇḍita nghĩ rằng: “Ta không nên nói thật là ta từ kinh-thành Mithilā bay đến mà nên nói dối”, nên nó trả lời rằng:

Này bạn Sāḷikā yêu quý! Tôi là con chim được nuôi dưỡng tại nơi phòng ngủ của Đức-vua Sivi. Đức-vua thả tôi bay ra ngoài đi dạo chơi cho khuây khỏa.

Con sáo mái Sāḷikā tiếp đãi con vẹt Suvapaṇḍita món gạo rang trộn với mật ong. Sau khi con vẹt ăn uống no đủ rồi, con sáo hỏi rằng:

Này Suvapaṇḍita! Bạn bay đến đây có việc gì không?

Này bạn Sāḷikā yêu quý! Trong thời gian qua, vợ của tôi là sáo mái Sāḷikā, có giọng nói ngọt ngào như bạn, bị con diều bắt ăn thịt, tôi buồn khổ, nhớ thương vợ của tôi. Nhìn thấy hoàn cảnh khổ đau, cô đơn, đáng thương của tôi, nên Đức-vua của tôi truyền bảo rằng:

“- Này Suvapaṇḍita! Nghe nói có một cô sáo Sāḷikā có giới hạnh tốt, có cử chỉ đáng yêu. Cô sáo Sāḷikā ấy được Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta nuôi dưỡng tại cửa sổ phòng ngủ của Đức-vua. Con nên bay đến thăm cô Sāḷikā ấy, con xem cô Sāḷikā ấy có đáng yêu không? Và con hỏi cô Sāḷikā ấy có yêu con không? Chuyện như thế nào, con bay về báo tin cho Trẫm biết”. Đó là nguyên nhân tôi đến thăm nàng hôm nay.

Này nàng Sāḷikā yêu quý! Tôi xin nói thật tình, nhìn thấy nàng, tôi cảm thấy yêu nàng tha thiết. Nếu nàng đáp lại tình yêu tha thiết của tôi thì tôi và nàng sẽ kết duyên vợ chồng với nhau cho đến trọn đời.

Nghe lời tỏ tình yêu thương tha thiết của Suvapaṇḍita, cô sáo Sāḷikā cảm thấy vô cùng sung sướng, nhưng chưa muốn cho con Suvapaṇḍita biết mình cũng yêu tha thiết mà làm bộ như không yêu nên nói rằng:

Này bạn Suvapaṇḍita! Thông thường vẹt trống (suva) yêu vẹt mái (suvi), sáo trống (sāḷika) yêu sáo mái (sāḷikā) cùng nòi giống với nhau. Còn đây, vẹt trống lại yêu sáo mái, cảm thấy sao khó nói quá!

Nghe cô Sāḷikā nói úp úp mở mở không chịu nói thẳng ra, nhưng cậu Suvapaṇḍita đoán biết trong lòng cô Sāḷikā đã yêu mình rồi, nên giải thích cho cô hiểu rằng:

Này nàng Sāḷikā yêu quý! Tình yêu giữa đôi bên khác phái chỉ có tâm thương yêu tha thiết với nhau là chính, còn nòi giống khác nhau không là quan trọng đâu. 

Suvapaṇḍita (con vẹt trống) đem tích quá khứ giải thích cho Sāḷikā (con sáo mái) nghe để thông cảm rằng:

Tình yêu phát sinh do tâm thương yêu lẫn nhau là chính, không phân biệt giai cấp thấp cao, nòi giống.

Ví như:

Này nàng Sāḷikā yêu quý! Người con gái xinh đẹp tên Jampāvati, vốn là phụ-nữ thuộc giai cấp thấp hèn, nhưng cô được Đức-vua Vāsudeva đem lòng thương yêu, đưa về cung. Đức-vua Vāsudeva tấn phong cô lên ngôi Chánh-cung Hoàng-hậu. Về sau, Chánh-cung Hoàng-hậu Jampāvati sinh hạ Thái-tử tên Sivi. Khi Đức-vua Vāsudeva băng hà, Thái-tử Sivi lên nối ngôi vua cha, ngự tại kinh-thành Dvāravatī.

Như vậy, Đức-vua Vāsudeva thuộc giai cấp vua chúa, còn kết hôn với cô Jampāvati, thuộc giai cấp thấp hèn được. Hai chúng ta đều là loài chim với nhau, tại sao không thể kết duyên vợ chồng với nhau được?

Này nàng Sāḷikā yêu quý! Con kinnarī cái tên là Raṭṭhavadī ăn ở chung sống với đạo-sĩ tên Vaccha, sinh ra các con trai, con gái của họ.

Như vậy, loài súc sinh Kinnarī cái ăn ở chung sống với loài người, vị đạo-sĩ Vaccha được. Hai chúng ta đều là loài chim với nhau, tại sao không thể kết duyên vợ chồng với nhau được?

Nghe con vẹt Suvapaṇḍita giải thích tán tỉnh như vậy, con sáo mái Sāḷikā thưa rằng:

Thưa anh Suvapaṇḍita yêu quý! Thật vậy, tình yêu phát sinh do tâm thương yêu lẫn nhau là chính, không phân biệt giống nòi, nhưng tâm thương yêu ấy có tồn tại mãi mãi được hay không? Khi em thương yêu anh, hai chúng ta trở thành vợ chồng với nhau, nếu một ngày kia phải xa lìa nhau thì chắc chắn em sẽ khổ lắm. 

Con vẹt Suvapaṇḍita có trí-tuệ, rất thông minh, hiểu biết được tính tình con sáo mái Sāḷikā, nên hỏi rằng:

Này em Sāḷikā yêu quý! Em nói như vậy, có nghĩa là em không tin anh tha thiết thương yêu em, để cùng em chung sống với nhau suốt đời. Anh vô cùng thất vọng.

Vậy, anh xin từ giã em!

Nghe Suvapaṇḍita nói như vậy, Sāḷikā cảm thấy như trái tim của nó bị vỡ vì quá yêu thương Suvapaṇḍita, nó thưa rằng:

Thưa anh Suvapaṇḍita yêu quý! Sự hạnh phúc an-lạc không có đối với người nóng nảy, vội vã. Chuyện vợ chồng chung sống với nhau, đó là điều tối hệ trọng cả cuộc đời, cần phải nên suy xét kỹ trước khi quyết định.

Vậy, xin anh chớ vội đi đâu, mời anh ở lại đây, rồi em sẽ cho biết tình cảm yêu thương của em đối với anh.

Sau đó con sáo mái Sāḷikā tỏ tình cảm tha thiết thương yêu con vẹt Suvapaṇḍita. Hai con chim âu yếm nhau trong tình cảm vợ chồng ngay vào chiều hôm ấy. Con vẹt Suvapaṇḍita đã chiếm được tình cảm của con sáo mái Sāḷikā. Trong khi chuyện trò tâm sự với nhau, con vẹt Suvapaṇḍita tìm cơ hội hỏi về chuyện Công-chúa Pañcālacandī rằng:

Này em Sāḷikā yêu quý! Anh nghe người ta lan truyền tin rằng: “Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta sẽ ban Công-chúa Pañcālacandī rất xinh đẹp tuyệt trần như một thiên-nữ cho Đức-vua Vedeha ngự tại kinh-thành Mithilā, để làm Chánh-cung Hoàng-hậu.

Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta mời Đức-vua Vedeha ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla, để tổ chức làm lễ thành hôn Công-chúa Pañcālacandī với Đức-vua Vedeha, rồi rước trở về kinh-thành Mithilā. Chuyện ấy có thật hay không? 

Này em Sāḷikā yêu quý! Nếu thật như vậy, thì em biết do nguyên nhân nào mà Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta ban Công-chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần như một thiên-nữ cho Đức-vua Vedeha vốn là kẻ thù trước đây của mình, mà lại không ban Công-chúa xinh đẹp tuyệt trần đến một Đức-vua chư hầu nào của mình, vậy em?

Nghe con vẹt Suvapaṇḍita hỏi như vậy, con sáo mái Sāḷikā thưa rằng:

Này anh Suvapaṇḍita yêu quý! Tại sao anh nói đến chuyện bất hạnh ấy, trong khi chúng ta đang hưởng mọi sự hạnh phúc an-lạc như thế này?

Này em Sāḷikā yêu quý! Chuyện lễ thành hôn của Công-chúa Pañcālacandī với Đức-vua Vedeha, tại sao em lại nói là chuyện bất hạnh?

Này anh Suvapaṇḍita yêu quý! Cầu xin chuyện lễ thành hôn khủng khiếp ấy đừng bao giờ xảy đến với Đức-vua Vedeha.

Con vẹt Suvapaṇḍita khẩn khoản năn nỉ con sáo mái Sāḷikā giải thích tại sao nó không dám nói. Con vẹt Suvapaṇḍita nói rằng:

Này em Sāḷikā yêu quý! Hai chúng ta đã là vợ là chồng của nhau rồi, chỉ có chuyện nhỏ ấy mà em không tâm sự cho anh biết, thì tình nghĩa vợ chồng còn có nghĩa gì nữa!

Nghe con vẹt Suvapaṇḍita trách như vậy, để bảo vệ tình nghĩa vợ chồng, sự hạnh phúc an-lạc, chiều lòng người yêu, nên con sáo mái Sāḷikā không cần phải giấu giếm chuyện người khác nữa, nàng thật tình thố lộ cho người yêu biết rằng:

Này anh Suvapaṇḍita yêu quý! Nếu vậy thì anh nghe em nói. Tại phòng ngủ lâu đài của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta, em nghe vị quân-sư Kevaṭṭa tâu chuyện bí mật với Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta rằng:

“- Tâu Chúa-thượng, Công-chúa Pañcālacandī của Chúa-thượng có sắc đẹp tuyệt trần như một thiên-nữ. Chúa-thượng nương nhờ Công-chúa làm mỹ-nhân-kế dụ Đức-vua Vedeha ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla để làm lễ thành hôn với Công-chúa, chắc chắn Thừa-tướng Mahosadhapaṇḍita đi theo hộ giá.

Như vậy, hai người ấy ở trong tay của ta, ví như nai bị mắc bẫy, cá bị cắn câu, không còn đường nào trốn thoát được nữa.

Chúa-thượng truyền lệnh bắt Đức-vua Vedeha và Thừa-tướng Mahosadha đem ra chém đầu, để trả thù, rồi Chúa-thượng truyền lệnh tổ chức đại lễ uống rượu, ăn mừng chiến thắng trong tòan cõi Nam-thiện-bộ-châu này.

Khi ấy, Chúa-thượng đương nhiên sẽ được suy tôn là Đại-vương cao cả nhất (aggamahārājā) làm bá chủ trong cõi Nam-thiện-bộ-châu này.”

Thưa anh Suvapaṇḍita yêu quý! Đó là lý do mà em nói rằng: Chuyện lễ thành hôn khủng khiếp ấy, xin đừng bao giờ xảy đến với Đức-vua Vedeha.

Con sáo mái Sāḷikā nói cho con vẹt Suvapaṇḍita biết đầy đủ chuyện bí mật của vị quân-sư Kevaṭṭa và Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta. Nghe con sáo mái Sāḷikā nói chuyện bí mật ấy, con vẹt Suvapaṇḍita nói rằng:

Quân-sư Kevaṭṭa là người có nhiều mưu kế thâm độc, giỏi thật!

Con sáo mái Sāḷikā nói rằng:

Thưa anh Suvapaṇḍita yêu quý! Lợi ích gì những chuyện bất hạnh ấy đối với chúng ta, tốt nhất, chúng ta nên đi ngủ. 

Con vẹt Suvapaṇḍita vô cùng hoan hỷ vì đã hoàn thành xong phận sự trong chuyến đi này. Suvapaṇḍita sống chung với con sáo mái Sāḷikā trong đêm hôm ấy.

Sáng dậy, con vẹt Suvapaṇḍita nói với con sáo mái Sāḷikā rằng:

Này em Sāḷikā yêu quý! Xin em cho phép anh đi trong vòng bảy ngày để anh tâu lên Đức-vua Sivi và Chánh-cung Hoàng-hậu biết rằng:

“- Con đã tìm được nàng Sāḷikā đáng yêu xứng đáng với con rồi, để Đức-vua Sivi và Chánh-cung Hoàng-hậu tác hợp cho anh và em thành vợ chồng với nhau.

Này em Sāḷikā yêu quý! Xin em vui vẻ hoan hỷ cho phép anh đi, em ở lại chớ nên buồn, đợi anh trở lại.”

Nghe Suvapaṇḍita nói như vậy, Sāḷikā nghĩ: “Tình nghĩa vợ chồng mới hợp lại phải xa nhau đến bảy ngày đêm dài, nhưng không cho phép cũng không được”, nên Sāḷikā thưa rằng:

Thưa anh Suvapaṇḍita yêu quý! Em đồng ý cho phép anh đi, chỉ trong vòng bảy ngày mà thôi. Nếu anh không trở lại gặp em trong ngày thứ bảy thì chắc chắn em sẽ không thể sống thêm được nữa.

Này em Sāḷikā yêu quý! Em chớ nên nói như vậy, nếu anh không thấy em trong ngày thứ bảy thì chắc chắn anh cũng không thể sống thêm được nữa. Em hãy an tâm chờ đợi anh.

Nói xong, con vẹt Suvapaṇḍita vội vã bay về kinh-thành Mithilā vào tư dinh của Đức-Bồ-tát Mahosadha-paṇḍita, đậu trên vai của Đức-Bồ-tát. Biết có chuyện bí mật, Đức-Bồ-tát ẵm Suvapaṇḍita lên trên lầu đài tầng cao, chỉ có Đức-Bồ-tát và Suvapaṇḍita mà thôi.

Con vẹt Suvapaṇḍita thuật lại cho Đức-Bồ-tát nghe đầy đủ chuyện bí mật giữa quân-sư Kevaṭṭa với Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta tại trên lâu đài phòng ngủ của Đức-vua.

Nghe con vẹt Suvapaṇḍita thuật lại đầy đủ câu chuyện bí mật ấy, Đức-Bồ-tát suy xét rằng:

“Dù ta khuyên can Đức-vua Vedeha không nên đến kinh-thành Uttarapañcāla thì Đức-vua cũng vẫn ngự đến nơi đó.

Nếu Đức-vua ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla thì chắc chắn Đức-vua sẽ bị chém đầu tại nơi đó.

Đức-vua là Đức Phụ-vương của ta, đã ban cho ta chức trọng quyền cao nhất trong triều đình, nếu ta không đền đáp công ơn Đức-vua thì ta không tránh khỏi bậc thiện-trí chê trách. Ta là người biết ơn và biết đền ơn Đức-vua.

Vì vậy, ta phải nên đến kinh-thành Uttarapañcāla chầu Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta trước, kính xin Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta cho phép xây dựng một cung điện, để đón rước Đức-vua Vedeha.

Nhân cơ hội ấy, ta sẽ bí mật đào một con đường hầm rộng lớn dưới đất để đưa Công-chúa Pañcālacandī đến chầu Đức-vua Vedeha, và để cứu nguy cho Đức-vua bằng con đường hầm ấy.

Đức Phụ-vương của ta ngự trở về kinh-thành Mithilā được an tòan sinh-mạng, mà Đức-vua Cūḷanī Brahma-datta không sao ngờ được. Đó là phận sự mà ta cần phải thực hiện.”

Suy xét như vậy xong, Đức-Bồ-tát cảm thấy vô cùng hoan hỷ, tự thốt lên rằng:

“Ta phải là người biết ơn và biết đền ơn đối với Đức-vua Vedeha, Đức Phụ-vương của ta. Đức-vua đã ban cho ta chức trọng quyền cao, ta đã hưởng bỗng lộc của Đức-vua ban, nên ta phải hết lòng lo phụng sự Đức-vua. 

Dù Đức-vua nổi cơn thịnh nộ quở mắng ta, ta vẫn nhẫn-nại chịu đựng mà không hề phát sinh tâm sân, không hài lòng. Ta phải có bổn phận biết ơn và biết đền ơn Đức Phụ-vương của ta.”

Sau đó, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita đến chầu Đức-vua Vedeha, đứng một nơi hợp lẽ, tâu rằng:

Tâu Đại-vương, Đại-vương có ý định ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla hay không?

Này Mahosadhapaṇḍita con yêu quý! Phụ-vương dự định sẽ ngự đến kinh-thành Uttarapañcāla. Nếu Phụ-vương làm lễ thành hôn với Công-chúa Pañcālacandī thì ngai vàng của Phụ-vương được bền vững lâu dài.

Xin con đừng bỏ Phụ-vương, con nên đi theo Phụ-vương vì được hai điều lợi lớn:

1- Phụ-vương được thành hôn với Công-chúa Pañcālacandī xinh đẹp tuyệt trần của Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta.

2- Phụ-vương được kết tình thân với Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta tại kinh-thành Uttarapañcāla như vậy, Phụ-vương ngự trên ngai vàng này sẽ được bền vững lâu dài.

Khi ấy, Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita tâu rằng:

Tâu Đức Phụ-vương, nếu Đức Phụ-vương muốn như vậy thì con phải đi đến kinh-thành Uttarapañcāla trước, vào chầu Đức-vua Cūḷanī Brahmadatta xin phép xây dựng một cung điện để đón rước Đức Phụ-vương.

Khi nào xây dựng cung điện xong, con sẽ ra lệnh người lính về tâu trình lên Đức Phụ-vương rõ. Khi ấy. Đức Phụ-vương sẽ ngự đi đến kinh-thành Uttara-pañcāla.

Nghe hoàng-tử Mahosadhapaṇḍita tâu như vậy, Đức-vua Vedeha vô cùng hoan hỷ nghĩ rằng: “Mahosadha con của ta chiều theo ý muốn của ta”, nên truyền bảo rằng:

Này hoàng-nhi Mahosadhapaṇḍita yêu quý! Con đi đến kinh-thành Uttarapañcāla trước, để xây dựng cung điện, con cần có những thứ gì vậy con?

Tâu Đức Phụ-vương, con cần quân lính và các phương tiện.

Này hoàng-nhi yêu quý! Con cần có những thứ gì, Phụ-vương đều cho phép những thứ ấy.

Tâu Đức Phụ-vương, xin phép Đức Phụ-vương mở cửa 4 nhà tù, thả những tù nhân nào khỏe mạnh, để họ đi theo giúp con.

Đức-vua Vedeha chuẩn tấu theo lời tâu xin của Đức-Bồ-tát Mahosadhapaṇḍita, nên số đông tù nhân được tự do đi theo giúp Đức-Bồ-tát.

Dhamma Paññā

BQT trang Theravāda cố gắng sưu tầm thông tin tài liệu Dhamma trợ duyên quý độc giả tìm hiểu về Dhamma - Giáo Pháp Bậc Giác Ngộ thuyết giảng suốt 45 năm sau khi Ngài chứng đắc trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Chánh Giác vào đêm Rằm tháng 4, tìm hiểu thêm phương pháp thực hành thiền Anapana, thiền Vipassana qua các tài liệu, bài giảng, pháp thoại từ các Thiền Sư, các Bậc Trưởng Lão, Bậc Thiện Trí.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *