Đoạn Kết

* Tích Ngài Trưởng-lão Sīlava trong bộ Theragāthā(1), được tóm lược như sau:

Ngài Trưởng-lão Sīlava vốn là hoàng-tử của Đức-vua Bimbisāra trong kinh-thành Rājagaha.

Hoàng-tử Ajātasattu giết Đức Phụ-vương Bimbisāra rồi lên ngôi làm Vua. Đức-vua Ajātasattu bày mưu kế giết hoàng-tử Sīlava, nhưng không thể nào giết chết được, bởi vì hoàng-tử Sīlava vốn có đầy đủ các pháp-hạnh ba-la-mật, kiếp này là kiếp chót, chắc chắn sẽ trở thành bậc Thánh-A-ra-hán. Cho nên, không một ai có khả năng giết chết hoàng tử Sīlava được.

Đức-Thế-Tôn thấy rõ biết rõ hoàng-tử Sīlava như vậy, nên truyền dạy Ngài Đại-Trưởng-lão Mahāmoggallāna dùng phép thần thông đến giải cứu hoàng-tử Sīlava, đem hoàng-tử trở về hầu Đức-Thế-Tôn.

Hoàng-tử Sīlava đến hầu đảnh lễ Đức-Thế- Tôn xong, ngồi một nơi hợp lẽ lắng nghe Đức- Thế-Tôn thuyết pháp. Sau khi lắng nghe Đức- Thế-Tôn thuyết pháp xong, hoàng-tử Sīlava phát sinh đức-tin trong sạch nơi Tam-bảo: Đức-Phật- bảo,   Đức-Pháp-bảo,   Đức-Tăng-bảo,   kính xin Đức-Thế-Tôn cho phép xuất gia trở thành tỳ- khưu trong giáo-pháp của Đức-Phật.

Sau khi trở thành tỳ-khưu không lâu, tỳ-khưu Sīlava thực-hành pháp-hành thiền-tuệ dẫn đến chứng-ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả và Niết-bàn, diệt tận được mọi tham-ái, mọi phiền-não không còn dư sót, trở thành bậc Thánh A-ra-hán.

Ngài Trưởng-lão Sīlava đã trú tại một vùng trong xứ Kosala. Đức-vua Ajātasattu hay tin, truyền lệnh một nhóm lính đến tìm giết Ngài Trưởng-lão Sīlava.

Ngài Trưởng-lão Sīlava thuyết pháp tế độ nhóm lính, sau khi lắng nghe Ngài Trưởng-lão thuyết-pháp, tất cả nhóm lính phát sinh đức-tin trong sạch nơi Tam-bảo: Đức-Phật-bảo, Đức- Pháp-bảo, Đức-Tăng-bảo, tất cả đều kính xin Ngài Trưởng-lão Sīlava cho phép xuất gia trở thành tỳ-khưu trong giáo-pháp của Đức-Phật.

Ngài Trưởng-lão Sīlava thuyết pháp dạy các đệ-tử phải biết tôn trọng giữ gìn giới của mình cho được trong sạch và trọn vẹn, được tóm lược như sau:

–  Này các con! Trong Phật-giáo này, các con nên học pháp-học Phật-giáo, và thực-hành pháp- hành Phật-giáo: thực-hành pháp-hành-giới, pháp- hành thiền-định, pháp-hành thiền-tuệ.

Pháp-hành-giới mà hành-giả thực-hành giữ gìn thân và khẩu tránh xa 3 thân ác-nghiệp, 4 khẩu ác-nghiệp, giữ gìn giới của mình cho được trong sạch và trọn vẹn đem lại mọi sự thành tựu: thành-tựu quả-báu an-lạc trong cõi người, thành tựu quả-báu an-lạc trong cõi trời và đặc biệt thành-tựu chứng đắc Niết-bàn, giải thoát khổ tử sinh luân-hồi trong 3 giới 4 loài.

Hành-giả nào muốn được 3 điều an lạc:

–  Được bậc thiện-trí tán dương ca tụng trong khắp mọi nơi.

–  Tâm thường được an lạc.

–  Được tái-sinh lên cõi thiện-giới.

Hành-giả ấy cần phải thực-hành pháp-hành- giới, giữ gìn giới của mình được trong sạch và trọn vẹn, là người có giới trong sạch thanh-tịnh, là người biết cẩn trọng trong 6 môn: nhãn môn, nhĩ môn, tỷ môn, thiệt môn, thân môn, ý môn không để cho phiền-não nương nhờ nơi 6 môn mà phát sinh, giữ gìn 6 môn thanh-tịnh.

Người có giới trong sạch trọn vẹn có nhiều bạn lành, bạn tốt là bậc thiện-trí.

Người phạm giới, tạo mọi ác-nghiệp, làm cho các bạn lành, bạn tốt lánh xa.

Người không có giới bị bậc thiện-trí chê trách, tiếng xấu bị lan truyền trong khắp mọi nơi.

Người có giới được bậc thiện-trí tán dương ca tụng, tiếng tốt lành được lan truyền trong khắp mọi nơi.

Giới trong sạch trọn vẹn làm nền tảng, làm nơi nương nhờ cho mọi thiện-pháp được phát triển.

Giới trong sạch trọn vẹn dẫn đầu mọi thiện- pháp phát triển.

Vì vậy, các con nên giữ gìn giới của mình cho được trong sạch và trọn vẹn.

Hành-giả giữ gìn giới trong sạch trọn vẹn, nên tránh xa được 3 thân ác-nghiệp, 4 khẩu ác- nghiệp, được thành tựu 3 thân thiện-nghiệp, 4 khẩu thiện-nghiệp, làm cho thân, khẩu, ý thanh- tịnh, nên phát sinh đại-thiện-tâm hoan hỷ trong giới trong sạch của mình.

Giới trong sạch trọn vẹn thanh-tịnh là bến xuôi đến đại dương, đó là Niết-bàn của chư Phật Chánh-Đẳng-Giác, chư Phật Độc-Giác, chư Thánh thanh-văn-giác.

Vì vậy, các con nên giữ gìn giới của mình cho được trong sạch và trọn vẹn.

Giới trong sạch trọn vẹn có sức mạnh chiến thắng được sự cám dỗ của Ma-vương và các Ma-quân.

Giới trong sạch trọn vẹn là loại vũ khí vô song cực kỳ lợi hại diệt được phiền-não loại thô.

Giới trong sạch trọn vẹn là đồ trang sức vô giá, là vật thơm làm tăng vẻ đẹp của thân và khẩu đáng kính, đáng yêu.

Trong mọi lúc, giới trong sạch trọn vẹn như là chiếc áo giáp an toàn bảo vệ không để rơi trong 4 cõi ác-giới.

Giới trong sạch như chiếc cầu vượt qua khỏi 4 cõi ác-giới, vượt qua khỏi 4 vùng nước xoáy.

Giới có nhiều tính chất đặc biệt như:

Giới là thứ vật thơm kỳ diệu lan tỏa theo chiều gió và ngược chiều gió, lan tỏa trong khắp mọi hướng.

Giới trong sạch là thứ vật thoa cao quý nhất.

Hành-giả có giới trong sạch trọn vẹn, thì danh thơm tiếng tốt lan tỏa trong sạch khắp 10 hướng.

Giới trong sạch là hành trang, vật dụng thiết yếu của khách lữ hành trong các cõi thiện dục- giới (cõi người, cõi trời).

Giới trong sạch là phương tiện làm nhân- duyên hỗ trợ dắt dẫn đến mục đích cứu cánh cuối cùng là Niết-bàn.

Kẻ thiểu-trí (si-mê) không biết tôn trọng giới của mình, nên phạm điều-giới, không có giới, luôn luôn bị bậc thiện-trí chê trách trong kiếp hiện-tại, sau khi chết, ác-nghiệp phạm giới cho quả tái-sinh trong 4 cõi ác-giới, chịu quả khổ của ác-nghiệp trong cõi ác-giới ấy.

Bậc thiện-trí có đức-tin trong sạch nơi Tam- bảo: Đức-Phật-bảo, Đức-Pháp-bảo, Đức-Tăng- bảo, có trí-tuệ sáng suốt biết tôn trọng giới của mình, giữ gìn giới trong sạch và trọn vẹn, thường được các bậc thiện-trí tán dương ca tụng trong kiếp hiện-tại.

Sau khi hành-giả có giới trong sạch trọn vẹn chết, đại-thiện-nghiệp giữ giới có cơ hội  cho quả tái-sinh kiếp sau trong 7 cõi thiện dục-giới là cõi người và 6 cõi trời dục-giới, hưởng mọi  sự an-lạc trong cõi ấy.

Bởi vậy cho nên, các con nên giữ gìn giới của mình cho được trong sạch và trọn vẹn để làm nền tảng cho pháp-hành thiền-định, pháp-hành thiền-tuệ được phát triển…”.

Ngài Trưởng-lão Sīlava thuyết pháp dạy về giới, đề cao giới cao quý đến các đệ-tử của Ngài như vậy.

Cho nên, sau khi các cận-sự-nam, cận-sự-nữ thọ phép quy-y Tam-bảo và thọ trì giới xong, Ngài Trưởng Lão đọc câu chúc lành rằng:

Sīlena sugatiṃ yanti, sīlena bhogasampadā. Sīlena nibbutiṃ yanti, tasmā sīlaṃ visodhaye! Chúng-sinh tái-sinh cõi trời, nhờ giữ giới.

Chúng-sinh đầy đủ của cải, nhờ giữ giới.

Chúng-sinh giải thoát Niết-bàn, nhờ giữ giới. Vậy, các con giữ giới cho được trong sạch!”.

“Ngũ-Giới là thường-giới của mọi người trong đời”. Người ở trong đời có 3 hạng người là hạng người tam-nhân (tihetukapuggala), hạng người nhị-nhân (dvihetukapuggala) và hạng người vô-nhân (ahetukapuggala).

1- Hạng người tam-nhân (tihetukapuggala) là người có tái-sinh-tâm (paṭisandhicitta) hợp đủ 3 thiện-nhân là vô-tham, vô-sân, vô-si (trí-tuệ) từ khi tái-sinh đầu thai làm người.

Hạng người tam-nhân như thế nào?

Tiền-kiếp của người nào là người có giới, ít nhất là ngũ-giới trong sạch trọn vẹn, đã tạo tam- nhân đại-thiện-nghiệp bậc cao (tihetuka-ukkaṭ- ṭhakusalakamma) trong 4 đại-thiện-tâm hợp với trí-tuệ, nên đại-thiện-nghiệp này có cơ hội cho quả trong thời-kỳ tái-sinh kiếp sau (paṭisandhi- kāla), có 4 đại-quả-tâm hợp với trí-tuệ gọi là tái-sinh-tâm (paṭisandhicitta) làm phận sự tái- sinh kiếp sau cùng với 3 sắc-pháp là kāya: thân, bhava: sắc nam-tính hoặc sắc nữ-tính, hadaya- vatthurūpa: sắc-ý-căn đầu thai làm người chỉ 1 sát-na-tâm, thì người ấy thuộc về hạng người tam-nhân (tihetukapuggala), bởi vì tái-sinh-tâm là đại-quả-tâm có đủ 3 thiện-nhân.

Khi sinh ra đời, đứa trẻ ấy vốn có trí-tuệ, lúc trưởng thành hạng người tam-nhân này là hành- giả nếu thực-hành pháp-hành thiền-định, có khả năng dẫn đến chứng đắc 5 bậc thiền sắc-giới thiện-tâm và 4 bậc thiền vô-sắc-giới thiện-tâm, chứng đắc các phép-thần-thông thế gian.

Hạng người tam-nhân này là hành-giả nếu thực-hành pháp-hành thiền-tuệ có khả năng dẫn đến chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc Thánh-đạo, Thánh-quả và Niết-bàn, trở thành bậc Thánh-nhân trong Phật-giáo.

2-   Hạng người nhị-nhân (dvihetukapuggala) là người có tái-sinh-tâm (paṭisandhicitta) chỉ có 2 thiện-nhân là vô-tham và vô-sân, không có vô- si (trí-tuệ) từ khi tái-sinh đầu thai làm người.

Hạng người nhị-nhân như thế nào?

Tiền-kiếp của người nào là người có giới, ít nhất là ngũ-giới trong sạch trọn vẹn, đã tạo nhị- nhân đại-thiện-nghiệp bậc cao (dvihetuka- ukkaṭ- ṭhakusalakamma) trong 4 đại-thiện-tâm không hợp với trí-tuệ có cơ-hội cho quả trong thời-kỳ tái-sinh kiếp sau (paṭisandhikāla) có 4 đại-quả-tâm không hợp với trí-tuệ gọi là tái- sinh-tâm (paṭisandhicitta) làm phận sự tái-sinh kiếp sau cùng với 3 sắc-pháp là kāya: thân, bhava: sắc nam-tính hoặc sắc nữ-tính, hadayavatthurūpa: sắc-ý-căn đầu thai làm người 1 sát-na-tâm, thì người ấy thuộc về hạng người nhị-nhân (dvihetukapuggala), bởi vì tái- sinh-tâm là đại-quả-tâm chỉ có 2 thiện-nhân (vô- tham và vô-sân) mà thôi.

Khi sinh ra đời, đứa trẻ ấy vốn không có trí- tuệ, lúc trưởng thành hạng người nhị-nhân này là hành-giả nếu thực-hành pháp-hành thiền-định, không có khả năng dẫn đến chứng đắc bậc thiền sắc-giới nào cả.

Hạng người nhị-nhân này là hành-giả nếu thực-hành pháp-hành thiền-tuệ không có khả năng dẫn đến chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế.

3-   Hạng người vô-nhân (ahetukapuggala) là người có tái-sinh-tâm (paṭisandhicitta) không có thiện-nhân nào trong 3 thiện-nhân (vô-tham, vô- sân, vô-si) từ khi tái-sinh đầu thai làm người.

Hạng người vô-nhân như thế nào?

Tiền-kiếp của người nào là người có giới, ít nhất là ngũ-giới trong sạch trọn vẹn, đã tạo nhị- nhân đại-thiện-nghiệp bậc thấp (dvihetuka- omakakusalakamma) trong 4 đại-thiện-tâm không hợp với trí-tuệ bậc thấp, có cơ-hội cho quả  trong thời-kỳ tái-sinh kiếp sau (paṭisandhikāla) có 1 quả-tâm là suy-xét-tâm đồng sinh với thọ xả là quả của đại-thiện-nghiệp bậc thấp thuộc về thiện-quả vô-nhân-tâm gọi là tái-sinh-tâm (paṭi- sandhicitta) làm phận sự tái-sinh kiếp sau cùng với 3 sắc-pháp là kāya: thân, bhava: sắc nam- tính hoặc sắc nữ-tính, hadayavatthurūpa: sắc-ý- căn đầu thai làm người đui mù, câm điếc, tật nguyền,… 1 sát-na-tâm, thì người ấy thuộc về hạng người vô-nhân (ahetukapuggala), bởi vì tái-sinh-tâm là thiện-quả vô-nhân-tâm.

Khi sinh ra đời, đứa trẻ ấy đui mù, câm điếc, tật nguyền,… lúc trưởng thành hạng người vô- nhân này chỉ biết tầm thường trong cuộc sống hằng ngày mà thôi.

Người Phân Loại Có 4 Loại Người

Trong Chú-giải Vimānavatthu   phân loại người có 4 loại người:(1)

Manussa: Người thật sự là người.

Manussa-peta: Người như loài ngạ-quỷ.

Manussa-tiracchāna: Người như loài súc-sinh.

Manussa-nerayika: Người như chúng-sinh địa-ngục,…

1- Manussa: Người thật sự là người như thế nào?

Người thật sự là người nghĩa là người ấy có thân người và tâm người.

Trong đời này, nếu người nào có đại-thiện- tâm trong sạch biết hổ-thẹn tội-lỗi, biết ghê-sợ tội-lỗi, biết tự trọng, biết giữ gìn ngũ-giới là thường-giới của con người được trong sạch và trọn vẹn, và thực-hành thập-thiện-nghiệp có 10 đại-thiện-nghiệp bằng thân, bằng khẩu, bằng ý và tạo 10 phước-thiện (puññakriyāvatthu) như sau:

10 Đại-Thiện-Nghiệp:

–   Thân đại-thiện-nghiệp có 3 loại:

1- Đại-thiện-nghiệp không sát-sinh.

2- Đại-thiện-nghiệp không trộm-cắp.

3- Đại-thiện-nghiệp không tà-dâm.

–   Khẩu đại-thiện-nghiệp có 4 loại:

1- Đại-thiện-nghiệp không nói dối.

2- Đại-thiện-nghiệp không nói lời chia rẽ.

3- Đại-thiện-nghiệp không nói lời thô tục.

4- Đại-thiện-nghiệp không nói lời vô ích.

–   Ý đại-thiện-nghiệp có 3 loại:

1- Đại-thiện-nghiệp không tham lam tài-sản của người khác.

2- Đại-thiện-nghiệp không thù hận người khác.

3- Đại-thiện-nghiệp có chánh-kiến thấy đúng, biết đúng theo chánh-pháp.

Đó là thập-thiện-nghiệp còn gọi là manussa- dhamma: thiện-pháp của loài người.

10 Phước-Thiện (Puññakriyāvatthu):

1-   Phước-thiện bố-thí (Dānakusala).

2-   Phước-thiện giữ gìn giới (Sīlakusala).

3-   Phước-thiện hành thiền (Bhāvanākusala).

4-   Phước-thiện cung kính (Apacāyanakusala).

5-   Phước-thiện hỗ trợ (Veyyāvaccakusala).

6-   Phước-thiện hồi hướng (Pattidānakusala).

7-   Phước-thiện hoan hỷ (Pattānumodanākusala)

8-   Phước-thiện nghe chánh-pháp (Dhammasavanakusala).

9-   Phước-thiện thuyết chánh-pháp (Dhammadesanākusala).

10-  Phước-thiện chánh-kiến (Diṭṭhijukammakusala)(1).

Nếu người nào thực-hành đầy đủ 10 đại- thiện-nghiệp và 10 phước-thiện (puññakriyā- vatthu) như vậy thì người ấy được gọi là người thật sự là người, bởi vì người ấy có thân người và tâm người.

2-     Manussa-peta: Người như loài ngạ-quỷ như thế nào?

Người như loài ngạ-quỷ nghĩa là người ấy có thân người nhưng tâm như loài ngạ-quỷ.

Trong đời này, nếu người nào có ác-tâm không biết hổ-thẹn tội-lỗi, không biết ghê-sợ tội- lỗi, không biết tự trọng, là người phạm các điều- giới trong ngũ-giới tạo mọi ác-nghiệp, nên thân, khẩu, ý bị ô nhiễm bởi phiền-não, đặc biệt tâm tham muốn, khao khát không biết đủ, không biết tri túc, thì người ấy bị gọi là người như loài ngạ-quỷ, bởi vì người ấy có thân người nhưng tâm tham muốn, khao khát như loài ngạ-quỷ.

3-   Manussa-tiracchāna: Người như loài súc- sinh như thế nào?

Người như loài súc-sinh nghĩa là người ấy có thân người nhưng tâm như loài súc-sinh.

Trong đời này, nếu người nào có ác-tâm không biết hổ-thẹn tội-lỗi, không biết ghê-sợ tội- lỗi, không biết tự trọng, là người phạm các điều- giới trong ngũ-giới tạo mọi ác-nghiệp, nên thân, khẩu, ý bị ô nhiễm bởi phiền-não, đặc biệt người ấy nếu khi ác-tâm nào phát sinh thì hành động theo ác-tâm ấy, không biết chế ngự, không kềm chế được ác-tâm ấy, ví như hễ khi tham-tâm phát sinh thì hành động theo tham-tâm, hễ khi sân-tâm phát sinh thì hành động theo sân-tâm, hễ khi si-tâm phát sinh thì hành động theo si- tâm, thì người ấy bị gọi là người như loài súc- sinh, bởi vì người ấy có thân người nhưng tâm không biết chế ngự, không biết kiềm chế phiền- não được như loài súc-sinh.

4-   Manussa-nerayika: Người như chúng-sinh địa-ngục như thế nào?

Người như chúng-sinh địa-ngục nghĩa là người ấy có thân người nhưng tâm như chúng- sinh địa-ngục.

Trong đời này, nếu người nào có ác-tâm không biết hổ-thẹn tội-lỗi, không biết ghê-sợ tội- lỗi, không biết tự trọng, là người phạm các điều- giới trong ngũ-giới tạo mọi ác-nghiệp, nên thân, khẩu, ý bị ô nhiễm bởi phiền-não, đặc biệt tạo những ác-nghiệp trở thành người có hành vi phạm pháp, phạm trọng tội, nên người ấy bị bắt đánh đập tra khảo, bị hành hạ, bị giam giữ trong tù, mất tự do, thì người ấy bị gọi là người như chúng-sinh địa-ngục, bởi vì người ấy có thân người nhưng thân tâm bị hành hạ, mất tự do như chúng-sinh trong cõi địa-ngục.

Cho nên, Ngũ-Giới (pañcasīla) là thường- giới (niccasīla) của mọi người, không ngoại trừ một ai cả.

Nếu người nào không biết hổ-thẹn tội-lỗi, không biết ghê-sợ tội-lỗi, không biết tự trọng, phạm điều-giới nào trong ngũ-giới tạo mọi ác-nghiệp phạm giới, thì ác-nghiệp ấy có cơ hội cho quả khổ trong kiếp hiện-tại và nhiều kiếp vị-lai.

Nếu người nào biết hổ-thẹn tội-lỗi, biết ghê-sợ tội-lỗi, biết tự trọng, giữ gìn ngũ-giới được trong sạch trọn vẹn, tạo đại-thiện-nghiệp giữ-giới, thì đại-thiện-nghiệp giữ-giới ấy có cơ hội cho quả an-lạc trong kiếp hiện-tại và nhiều kiếp vị-lai.

Như Đức-Phật dạy dân làng Pāṭali như sau:

* Quả Khổ Của Người Phạm Giới (Dussīla ādīnava)

Một thuở nọ, Đức-Thế-Tôn đang ngự tại ngôi làng Pāṭaligāma, dân làng Pāṭali đến hầu đảnh lễ Đức-Thế-Tôn xong, ngồi  một nơi hợp lẽ. Khi ấy, Đức-Thế-Tôn truyền dạy dân làng Pāṭali rằng:

–    Này các người tại gia! Có 5 quả xấu, quả khổ của người phạm giới, người không có giới.  5 quả xấu, quả khổ ấy là:

–    Này các người tại gia! Trong đời này, người phạm giới, người không có giới, làm tiêu hao của cải tài sản lớn lao, do nhân dể duôi.

Đó là quả xấu thứ nhất của người phạm giới, người không có giới.

    Này các người tại gia! Người phạm giới, người không có giới, có tiếng xấu bị lan truyền khắp mọi nơi.

Đó là quả xấu thứ nhì của người phạm giới, người không có giới.

–    Này các người tại gia! Người phạm giới, người không có giới, có bất-thiện-tâm e ngại, sợ sệt khi đi vào nơi hội đoàn hoàng gia, hội đoàn gia chủ, hội đoàn Sa-môn, hội đoàn Bà-la-môn…

Đó là quả xấu thứ ba của người phạm giới, người không có giới.

–   Này các người tại gia! Người phạm giới, người không có giới, có ác-tâm mê muội lúc lâm chung.

Đó là quả xấu thứ tư của người phạm giới, người không có giới.

–    Này các người tại gia! Người phạm giới, người không có giới sau khi chết, ác-nghiệp cho quả tái-sinh kiếp sau trong cõi ác-giới (địa- ngục, a-su-ra, ngạ-quỷ, súc-sinh), chịu quả khổ trong cõi ác-giới ấy.

Đó là quả xấu, quả khổ thứ năm của người phạm giới, người không có giới.

–    Này các người tại gia! Đó là 5 quả xấu, quả khổ của người phạm giới, người không có giới như vậy.

* Quả-báu Của Người Có Giới (Sīlavanta ānisaṃsa)

–    Này các người tại gia! Có 5 quả-báu của người có giới, người giữ gìn giới trong sạch và trọn vẹn. 5 quả-báu ấy là:

1- Này các người tại gia! Trong đời này, người có giới, người giữ gìn giới được trong sạch và trọn vẹn, có nhiều của cải lớn lao, do nhờ nhân không dể duôi (có trí-nhớ biết mình).

Đó là quả-báu thứ nhất của người có giới, người giữ gìn giới trong sạch và trọn vẹn.

2- Này các người tại gia! Người có giới, người giữ gìn giới trong sạch và trọn vẹn, có danh thơm tiếng tốt được lan truyền khắp mọi nơi.

Đó là quả-báu thứ nhì của người có giới, người giữ gìn giới trong sạch và trọn vẹn.

3- Này các người tại gia! Người có giới, người giữ gìn giới trong sạch và trọn vẹn, có đại-thiện-tâm dũng cảm, không rụt rè e thẹn khi đi vào nơi hội đoàn hoàng gia, hội đoàn gia chủ, hội đoàn Sa-môn, hội đoàn Bà-la-môn…

Đó là quả-báu thứ ba của người có giới, người giữ gìn giới trong sạch và trọn vẹn.

4- Này các người tại gia! Người có giới, người giữ gìn giới trong sạch và trọn vẹn, có đại-thiện- tâm tỉnh táo sáng suốt lúc lâm chung.

Đó là quả-báu thứ tư của người có giới, người giữ gìn giới trong sạch và trọn vẹn.

5- Này các người tại gia! Người có giới, người giữ gìn giới trong sạch và trọn vẹn, sau khi chết, đại-thiện-nghiệp giữ giới cho quả tái- sinh kiếp sau trong 7 cõi thiện dục-giới (cõi người, hoặc 6 cõi trời dục giới), hưởng mọi sự an-lạc trong cõi ấy.

–   Này các người tại gia! Đó là 5 quả-báu của người có giới, người giữ gìn giới trong sạch và trọn vẹn như vậy.

 Phật-lịch 2560 / 2016

Rừng Núi Viên-Không,

Xã Tóc-Tiên, H. Tân-Thành, Tỉnh Bà-Rịa -Vũng Tàu.

 Tỳ-Khưu Hộ-Pháp (Dhammarakkhita Bhikkhu)

(Aggamahāpaṇḍita)

Patthanā

Iminā puññakammena,

sukhī bhavāma sabbadā.

Ciraṃ tiṭṭhatu saddhammo,

loke sattā sumaṅgalā.

Vietnamraṭṭhikā hi sabbe,

janā pappontu sāsane.

Vuḍḍhiṃ viruḷhivepullaṃ,

patthayāmi nirantaraṃ.

Lời nguyện cầu

Do nhờ phước-thiện thanh cao này,

Cho chúng con thường được an-lạc.

Cầu mong chánh-pháp được trường tồn,

Tất cả chúng-sinh được hạnh phúc.

Dân tộc Việt Nam được phát triển,

Tiến hóa hưng thịnh trong Phật-giáo.

Bần sư cầu nguyện với tâm thành,

Hằng mong được thành tựu như nguyện.

Ciraṃ tiṭṭhatu saddhammo lokasmiṃ

Ciraṃ tiṭṭhatu saddhammo Vietnamraṭṭhasmiṃ.

Nguyện cầu chánh-pháp được trường tồn trên thế gian.

Nguyện cầu chánh-pháp được trường tồn trên Tổ-quốc Việt Nam thân yêu.

Các bài viết trong sách

Dhamma Paññā

BQT trang Theravāda cố gắng sưu tầm thông tin tài liệu Dhamma trợ duyên quý độc giả tìm hiểu về Dhamma - Giáo Pháp Bậc Giác Ngộ thuyết giảng suốt 45 năm sau khi Ngài chứng đắc trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Chánh Giác vào đêm Rằm tháng 4, tìm hiểu thêm phương pháp thực hành thiền Anapana, thiền Vipassana qua các tài liệu, bài giảng, pháp thoại từ các Thiền Sư, các Bậc Trưởng Lão, Bậc Thiện Trí.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *