TIỂU PHẨM II – CHƯƠNG PHẬN SỰ: PHẬN SỰ ĐỐI VỚI HỌC TRÒ

Tiểu Phẩm II

Chương Phận Sự

Phận sự đối với học trò

Vào lúc bấy giờ, các vị thầy dạy học không thực hành phận sự đúng đắn đối với các người học trò. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: – “Vì sao các vị thầy dạy học lại không thực hành phận sự đúng đắn đối với các người học trò?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và hỏi các tỳ khưu rằng: – “Này các tỳ khưu, nghe nói các vị thầy dạy học không thực hành phận sự đúng đắn đối với các người học trò, có đúng không vậy?” – “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” ―(như trên)― Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: – “Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy ta sẽ quy định phận sự đối với các người học trò cho các vị thầy dạy học, các vị thầy dạy học đối với các người học trò nên thực hành như thế.

Này các tỳ khưu, vị thầy dạy học nên thực hành phận sự đúng đắn đối với người học trò. Đây là phận sự đúng đắn trong trường hợp này:

Này các tỳ khưu, thầy dạy học nên quan tâm đến người học trò, nên giúp đỡ bằng sự đọc tụng, bằng sự vấn hỏi, bằng sự giáo huấn, bằng sự giảng dạy. Nếu thầy dạy học có bình bát và người học trò không có bình bát, thầy dạy học nên cho bình bát đến người học trò, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để bình bát có thể phát sanh đến học trò?’

Nếu thầy dạy học có y và người học trò không có y, thầy dạy học nên cho y đến người học trò, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y có thể phát sanh đến học trò?’

Nếu thầy dạy học có vật dụng và người học trò không có vật dụng, thầy dạy học nên cho vật dụng đến người học trò, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để vật dụng có thể phát sanh đến học trò?’

Nếu người học trò bị bệnh, (vị thầy dạy học) nên thức dậy vào lúc sáng sớm. Nên trao gỗ chà răng. Nên trao nước súc miệng. Nên sắp xếp chỗ ngồi. Nếu có cháo, nên rửa tô rồi đem cháo lại. Khi người học trò đã uống cháo xong, nên cho nước, nhận lại tô, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, rồi đem cất. Khi người học trò đã đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nếu khu vực ấy có rác bẩn thì nên quét khu vực ấy.

Nếu người học trò có ý định đi vào làng, nên trao y lót trong, nên nhận lại y lót trong (đã thay đổi), nên trao dây thắt lưng, nên gấp y hai lớp thành nếp rồi trao cho. Nên trao bình bát còn đẫm nước sau khi đã rửa sạch. (Nghĩ rằng): ‘Đến lúc vị ấy sắp trở về,’ nên sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Sau khi đi ra đón tiếp, nên rước y và bình bát. Nên trao y lót trong (trước đây), nên nhận lại y lót trong (mặc lúc đi).

Nếu y bị thấm mồ hôi, nên phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên để luôn y ở chỗ nắng. Nên gấp y lại. Trong khi gấp y nên lùi phần góc vào bốn ngón tay rồi gấp y lại (nghĩ rằng): ‘Không nên để nếp gấp ở phần chính giữa.’ Nên đặt dây thắt lưng ở phần y đã gấp lại.

Nếu có đồ ăn khất thực và người học trò có ý muốn thọ dụng thì nên trao nước (rửa) rồi đem đồ ăn khất thực lại. Nên hỏi ý người học trò về nước uống. Khi người học trò ăn xong nên trao nước (rửa). Nên nhận lại bình bát, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, nên làm ráo nước, rồi đem phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên để luôn bình bát ở chỗ nắng. Nên đem cất y và bình bát. Trong khi đặt bình bát xuống, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt bình bát xuống. Và không nên đặt bình bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, còn phần gấp lại ở bên này, rồi máng y xuống. Khi người học trò đã đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nên dọn dẹp nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân.

Nếu khu vực ấy có rác bẩn thì nên quét khu vực ấy. Nếu người học trò có ý muốn tắm, nên chuẩn bị việc tắm. Nếu (người học trò) có nhu cầu về nước lạnh, nên chuẩn bị nước lạnh; nếu có nhu cầu về nước nóng, nên chuẩn bị nước nóng. Nếu người học trò có ý muốn đi vào nhà tắm hơi, nên trộn bột tắm, nên tẩm ướt đất sét. Nên lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi đến, trao ghế ngồi của nhà tắm hơi, nhận lấy y, rồi để ở một bên. Nên trao bột tắm. Nên trao đất sét. Nếu có nỗ lực, nên đi vào nhà tắm hơi. Trong khi đi vào nhà tắm hơi, nên thoa đất sét lên mặt, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi đi vào nhà tắm hơi.

Không nên chen vào (chỗ) các tỳ khưu trưởng lão rồi ngồi xuống. Không nên xua đuổi các tỳ khưu mới tu khỏi chỗ ngồi. Ở trong nhà tắm hơi nên kỳ cọ cho người học trò. Trong khi rời khỏi nhà tắm hơi, nên cầm lấy cái ghế ngồi của nhà tắm hơi, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi rời khỏi nhà tắm hơi. Lúc ở trong nước nên kỳ cọ cho người học trò. Khi đã tắm xong nên đi ra (khỏi nước) trước tiên, nên lau khô nước ở thân thể của mình, quấn y lại, rồi nên lau khô nước ở thân thể của người học trò. Nên trao y lót trong. Nên trao y hai lớp. Nên cầm lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi về trước, và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên hỏi ý người học trò về nước uống. Ở trú xá nào người học trò cư ngụ, nếu trú xá ấy có rác bẩn, nếu có nỗ lực thì nên làm sạch sẽ. Trong khi làm sạch sẽ trú xá, trước tiên nên đem y bát ra ngoài rồi để xuống ở một góc. ―(như trên)― Nếu hũ nước súc miệng không có nước, nên đổ nước vào hũ nước súc miệng.

Nếu sự bực bội sanh khởi ở người học trò, vị thầy dạy học nên làm cho dịu đi, hoặc nhờ vị khác làm cho dịu đi, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy. Nếu nỗi nghi hoặc sanh khởi ở người học trò, vị thầy dạy học nên làm cho tan biến, hoặc nhờ vị khác làm cho tan biến, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy. Nếu tà kiến sanh khởi ở người học trò, vị thầy dạy học nên phân giải, hoặc nhờ vị khác phân giải, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy.

Nếu người học trò bị phạm tội nặng xứng đáng hình phạt parivāsa, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể ban hình phạt parivāsa cho học trò?’ Nếu người học trò xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể đưa học trò về lại (hình phạt) ban đầu?’ Nếu người học trò xứng đáng hình phạt mānatta, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể ban hình phạt mānatta cho học trò?’ Nếu người học trò xứng đáng sự giải tội, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể giải tội cho học trò?’

Nếu hội chúng có ý định thực hiện hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đối với người học trò, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể khỏi thực hiện hành sự đối với học trò, hoặc đổi thành nhẹ hơn?’ Khi hội chúng đã thực hiện hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đối với người học trò, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để học trò có thể làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, và hội chúng có thể thâu hồi hành sự này?’

Nếu y của người học trò cần phải giặt, vị thầy dạy học nên chỉ dẫn: ‘Ngươi nên giặt như vầy,’ hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y của học trò được giặt?’ Nếu y của học trò cần phải may, vị thầy dạy học nên chỉ dẫn: ‘Ngươi nên may như vầy,’ hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y của học trò được may?’ Nếu thuốc nhuộm của người học trò cần phải nấu, vị thầy dạy học nên chỉ dẫn: ‘Ngươi nên nấu như vầy,’ hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để thuốc nhuộm của học trò được nấu?’

Nếu y của người học trò cần phải nhuộm, vị thầy dạy học nên chỉ dẫn: ‘Ngươi nên nhuộm như vầy,’ hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y của học trò được nhuộm?’ Trong khi nhuộm y, nên đảo tới đảo lui cho khéo léo. Không nên bỏ đi khi nước nhỏ giọt chưa ngừng. Nếu người học trò bị bệnh, nên phục vụ cho đến trọn đời. nên chờ đợi (đến khi) vị ấy có sự hồi phục.

Này các tỳ khưu, đây là phận sự đối với các người học trò của các vị thầy dạy học. Các vị thầy dạy học đối với các người học trò nên thực hành như thế.” 

Chương Phận Sự là thứ tám.

*****

Trong chương này có năm mươi lăm sự việc.

Tóm lược chương này

Có mang dép, và che dù, trùm đầu, đội y, nước uống, với sự không đảnh lễ, không hỏi (về chỗ ngụ), con rắn, các vị hiền thiện phàn nàn.

Vị đã cởi (dép), (hạ) dù, ở vai, và không vội vã trong khi đi đến, đã đặt y và bát xuống, và (chỗ ngồi) thích hợp, (các việc) đã được hỏi.

Nên xối nước, với vị đã rửa, (lau) giày dép với khăn khô, rồi ướt, vị trưởng thượng, vị mới tu, nên hỏi, (phòng) đã có người ở, và khu vực đi khất thực.

Các vị Thánh Hữu Học, nhà tiêu, nước uống, nước rửa, cây gậy chống, điều qui định từ nơi ấy, giờ giấc, (chờ) trong chốc lát, rác bẩn, nên đem ra ngoài thảm trải nền.

Khung giường, nệm gối, giường, ghế, và ống nhổ, tấm ván kê, tấm màn che, các hốc kẹt, màu đỏ, màu đen, (nền) không được thực hiện.

Rác, và tấm thảm trải nền, khung giường, giường và ghế, nệm gối, vật lót ngồi, ống nhổ, và tấm ván kê đầu.

Y và bình bát, và mặt đất, mép y phía bên kia, phần gấp lại ở bên này, từ hướng đông, và từ hướng tây, từ hướng bắc, rồi từ hướng nam.

Và khi lạnh khi nóng, ban ngày, ban đêm, căn phòng, cổng ra vào, phòng hội họp, nhà đốt lửa, và phận sự ở các nhà vệ sinh.

Nước uống, nước rửa, và hũ nước cho các việc súc miệng, phận sự đã được bậc Vô Song quy định, các điều này (nên được thực hành) bởi các vị vãng lai.

Không chịu (sắp xếp) chỗ ngồi, không nước, không đón tiếp, và không nước uống, không đảnh lễ, không sắp xếp (chỗ ngụ), và các vị hiền thiện phàn nàn.

Chỗ ngồi cho vị thâm niên, và nước rửa, sau khi đi ra đón tiếp, và nước uống, (nên lau) đôi dép, (phơi) ở một góc, nên đảnh lễ và nên sắp xếp (chỗ ngụ).

Đã có người ở, khu vực đi khất thực, và vị Thánh Hữu Học, chỗ nước uống và nước rửa, cây gậy chống, điều quy định, giờ giấc, đối với vị mới tu, về vị vẫn ngồi.

Nên cho đảnh lễ, nên chỉ rõ, tương tợ như đường lối dưới đây, phận sự đã được vị Hướng Dẫn Đoàn Xe chỉ dạy, các điều này (nên được thực hành) bởi các vị thường trú.

Vị xuất hành, đồ gỗ, và các đồ đất nung, sau khi mở ra, không được thông báo, các vật bị mất, và không được bảo vệ, và các vị hiền thiện phàn nàn.

Sau khi thu xếp, sau khi đóng cửa, sau khi thông báo rồi nên ra đi, vị tỳ khưu, hoặc sa di, hoặc người phụ việc chùa, hoặc cư sĩ.

Ở trên các hòn đá, và nên thu xếp thành đống, và nên đóng cửa, hoặc vị có nỗ lực, hoặc (thực hiện) sự nỗ lực, và tương tợ y như thế ở chỗ không dột.

Toàn bộ đều bị dột, (nên mang) vào làng, và tương tợ y như thế ở ngoài trời (nghĩ rằng): ‘Có lẽ các thứ này sẽ còn được tồn tại,’ phận sự (nên được thực hành) bởi vị tỳ khưu xuất hành.

Các vị không nói lời tùy hỷ, bởi vị trưởng lão, sau khi để ở lại, với bốn hay năm vị, bị mắc tiêu, đã bị ngất xỉu, các điều này là các phận sự trong các việc nói lời tùy hỷ.

Các vị nhóm Lục Sư mặc y luộm thuộm, và lại còn trùm y luộm thuộm, không đúng quy cách, và sau khi tách ra, chen vào (chỗ) các vị trưởng lão.

Và (đuổi) các vị mới tu, (trải ra) y hai lớp, và các vị hiền thiện phàn nàn, sau khi quấn che ba vòng tròn, dây thắt lưng, với nếp gấp, dây buộc.

Không tách ra, được che kín, khéo thu thúc, với mắt nhìn xuống, bị vén hở ra, với tiếng cười vang, âm thanh (giọng nói), và còn thêm ba sự đung đưa.

Chống nạnh, trùm đầu, nhón gót, được che kín, khéo thu thúc, với mắt nhìn xuống, bị vén hở ra, tiếng cười vang, giọng nói nhỏ nhẹ, ba sự đung đưa.

Chống nạnh, trùm đầu, ôm đầu gối, việc chen vào, ở chỗ ngồi, sau khi trải ra, nước, sau khi hạ thấp xuống, không nên làm văng nước.

Vật chứa nước rửa, ở xung quanh, y hai lớp, và khi (được dâng) cơm, nên thọ lãnh, xúp, với thức ăn ngon, cho tất cả, và ngang miệng (bát).

Nghiêm trang, và có sự chú tâm ở bình bát, và theo tuần tự, với lượng xúp, không vun thành đống, che lấp, yêu cầu, với ý định tìm lỗi.

(Vắt cơm) lớn, tròn đều, cửa miệng, trọn bàn tay, không nói chuyện, đưa thức ăn liên tục, việc cắn (từng chút), phồng má, vung rảy tay, sự làm rơi đổ cơm.

Và luôn cả việc le lưỡi, tiếng chép chép, và với tiếng rột rột, liếm tay, vét bình bát, liếm môi, có dính thức ăn, về việc thọ lãnh.

Không (thọ nhận) nước rửa cho đến khi tất cả (đã ăn xong), sau khi hạ thấp, không nên làm văng, vật chứa nước rửa, ở xung quanh, y hai lớp, sau khi hạ thấp, và ở mặt đất.

(Nước) có lẫn cơm, trong khi đi trở về, được che kín đáo, sự nhón gót, đây là phận sự ở nhà ăn đã được quy định bởi bậc Pháp Vương.

Mặc y phục luộm thuộm, không đúng quy cách, sau khi không suy xét, và vội vã, xa, gần, lâu, mau, tương tợ y như thế là vị đi khất thực.

Với sự che kín rồi nên đi, khéo thu thúc, với mắt nhìn xuống, bị vén hở ra, với tiếng cười vang, âm thanh (giọng nói), và còn thêm ba sự đung đưa.

Chống nạnh, trùm đầu, nhón gót, sau khi không suy xét, và vội vã, xa, gần, lâu, mau, sự đụng đến, cái muỗng.

Hoặc cái đĩa, và thỉnh đứng lại, sau khi vén y lên, sau khi mở ra, nên thọ lãnh, không nên nhìn, về các món xúp, điều ấy cũng tương tợ y như thế.

Vị tỳ khưu, nên che đậy bằng y saṅghāṭi, được che kín rồi mới nên đi, khéo thu thúc, với mắt nhìn xuống, bị vén hở ra, và tiếng cười vang.

Với giọng nói nhỏ nhẹ, ba sự đung đưa, chống nạnh, trùm đầu, nhón gót, (về) trước tiên, chỗ ngồi, chậu đựng đồ thừa, nước uống, nước rửa, (vị) về sau, (nếu) muốn, có thể ăn, có thể đổ xuống, nên xếp lại cất đi.

Có thể dọn dẹp, nên quét, hết nước, trống trơn, nên đem (nước) lại, về dấu hiệu bằng tay, (không) nên nói ra lời, và phận sự về việc khất thực.

Nước uống, nước rửa, ngọn lửa, vật tạo lửa, sao, phương hướng, và bọn trộm cướp, ‘tất cả đều không có,’ sau khi đánh đập, vai mang bình bát, y, từ nơi ấy.

Giờ đây, sau khi mang ở vai, đều đặn ba vòng tròn, giống như phận sự của vị đi khất thực, phương thức cho các vị sống ở rừng cũng thế.

Vai mang bình bát, y (đội) ở đầu, sau khi mang (dép) vào, và nước uống, nước rửa, ngọn lửa, vật tạo lửa, và luôn cả gậy chống.

Ngôi sao, hoặc toàn bộ khu vực, nên rành rẽ về các phương hướng, các điều này là phận sự cho các vị ngụ ở rừng đã được quy định bởi bậc Tối Thượng của Chúng Sanh.

Ở ngoài trời, các vị đã bị lấm bụi, và các vị hiền thiện phàn nàn, nếu trú xá có rác bẩn, trước tiên là y và bình bát.

Nệm gối, giường, ghế, và ống nhổ, tấm ván kê đầu, lỗ thông gió và các hốc kẹt, màu đỏ, màu đen, và (nền) chưa được thực hiện.

Rác rến, gần các vị tỳ khưu, (gần) sàng tọa, (gần) trú xá và nước uống, gần nước rửa, ngược chiều gió, và ở mái hiên.

Phía dưới gió, thảm trải nền, khung giường, và giường, ghế, nệm, vật lót ngồi, ống nhổ, và tấm ván kê đầu.

Y và bình bát, và mặt đất, mép y phía bên kia, phần gấp lại ở bên này, từ hướng đông, và từ hướng tây, từ hướng bắc, rồi từ hướng nam.

Và khi lạnh khi nóng, ban ngày, ban đêm, và căn phòng, cổng ra vào, và phòng hội họp, nhà đốt lửa, nhà vệ sinh, và nước uống.

Hũ nước súc miệng, và vị thâm niên, việc đọc tụng, các câu hỏi, việc học bài, (việc giảng) Pháp, nên thổi tắt ngọn đèn, không nên mở ra, cũng không nên đóng lại.

Khi đối đầu với vị thâm niên thì nên xoay lại, không nên va chạm dù là bằng chéo y, đấng Đại Hùng đã quy định điều ấy là phận sự ở các nơi cư ngụ.

Các vị trong khi bị cản trở, (đóng) cửa ra vào, đã bị ngất xỉu, các vị hiền thiện phàn nàn, nên đổ tro, nhà tắm hơi, và bục nền xung quanh tương tợ y như thế.

Căn phòng, cổng, gian phòng lớn, bột tắm, đất sét, máng nước, khuôn mặt, ở phía trước, không (chen vào) các vị trưởng lão, không nên (xua đuổi) các vị mới tu, nếu có nỗ lực.

(Tắm) ở phía trước, ở phía trên, đường đi, bị lầy lội, (máng) đất sét, ghế ngồi, sau khi tắt lửa, nên đi ra, các điều này là phận sự ở các nhà tắm hơi.

Vị không rửa sạch, theo thâm niên, theo thứ tự, và với sự vội vã, đã vén y lên, việc rặn, gỗ (chà răng), việc đại tiện, việc tiểu tiện, việc khạc nhổ.

Bị sần sùi, hố phân, với sự vội vã, đã vén y lên, tiếng chép chép, với (nước) chừa lại, vị ở bên ngoài, và ở bên trong, nên tằng hắng, giây phơi, và sự không hấp tấp.

Với sự vội vã, sau khi vén y lên, về việc rặn, gỗ (chà răng), việc đại tiện, việc tiểu tiện, việc khạc nhổ, (khúc cây chùi) bị sần sùi, hố phân, bệ nhà vệ sinh.

Với sự không vội vã, đã vén y lên, ở sàn rửa, tiếng chép chép, không nên chừa lại (nước), nên che kín, bị dơ, với thùng đựng.

Nhà vệ sinh, bục nền xung quanh, và căn phòng, cổng, và nước để rửa ráy, các điều này là phận sự ở nhà vệ sinh.

Đôi dép, gỗ chà răng, và nước súc miệng, chỗ ngồi, cháo, nước, sau khi rửa, nên thu xếp, rác bẩn, và vào làng.

Y lót trong, dây thắt lưng, có nếp gấp, bình bát còn đẫm nước, vị thị giả, và luôn cả ba vòng, (mặc y nội) tròn đều, dây thắt lưng.

Có nếp gấp, sau khi rửa, vị (Sa-môn) hầu cận, không quá xa, nên nhận lấy, khi đang nói, tội vi phạm, sau khi đi về trước tiên, chỗ ngồi.

Nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân, sau khi đi ra đón, y lót trong, nên phơi nắng, để luôn, vết gấp, ở phần đã gấp lại, để thọ thực, nên đem lại.

Nước uống, nước rửa, chỗ thấp, trong chốc lát, và không nên để luôn, y và bình bát, và mặt đất, mép y phía bên kia, phần gấp lại ở bên này.

Nên thu xếp, và nên dọn dẹp, rác bẩn, và (có ý muốn) tắm, (nước) lạnh, (nước) nóng, nhà tắm hơi, bột tắm, đất sét, từ phía sau lưng.

Và ghế ngồi, y, bột tắm, đất sét, nếu có nỗ lực, khuôn mặt, phía trước, (chen vào) các vị trưởng lão, và (xua đuổi) các vị mới tu, và việc kỳ cọ, nên rời khỏi.

Ở phía trước, lúc ở trong nước, khi đã tắm, sau khi quấn y lại, (lau khô) thầy tế độ, và y lót trong, y hai lớp, ghế (nhà tắm hơi), và với chỗ ngồi.

Nước rửa chân, ghế kê chân, giẻ lau chân, nước uống, việc đọc tụng, việc hỏi đạo, rác bẩn, nên khéo làm sạch sẽ, trước tiên là y và bình bát.

Vật lót ngồi, tấm trải nằm, nệm và các gối, giường, ghế, khung giường, ống nhổ, và tấm ván kê đầu.

(Tấm trải) nền nhà, mạng nhện, lỗ thông gió, màu đỏ, màu đen, không được thực hiện, tấm trải nền, khung giường, giường, ghế, gối.

Vật lót ngồi và tấm trải nằm, ống nhổ, tấm ván kê đầu, y và bình bát, từ hướng đông, và luôn cả từ hướng tây, từ hướng bắc, rồi từ hướng nam.

Và khi lạnh khi nóng, ban ngày, ban đêm, và căn phòng, cổng ra vào, phòng hội họp, và nhà đốt lửa, nhà vệ sinh, nước uống, nước rửa.

Việc súc miệng, sự bực bội, nỗi nghi hoặc, tà kiến, và tội nặng, từ đầu, hình phạt mànatta, việc giải tội, (hành sự) khiển trách, chỉ dạy.

(Hành sự) xua đuổi, hòa giải, và treo tội, nếu đã được thực hiện, nên giặt, nên thể hiện, và việc nhuộm, nên nhuộm, việc trộn đều.

Và bình bát, và luôn cả y nữa, và vật dụng, việc cạo (tóc), việc kỳ cọ, việc hầu hạ, Sa-môn hầu cận, đồ khất thực, sự đi vào.

Không mộ địa, và luôn cả hướng (khác), cho đến trọn đời nên phục vụ, việc này (nên được thực hành) bởi người đệ tử, các điều này là phận sự đối với các vị thầy tế độ.

Sự giáo huấn, giảng dạy, đọc tụng, vấn hỏi, bình bát, và y, vật dụng, và vị bị bệnh, không nên là vị Sa-môn hầu cận.

Các phận sự nào đối với các vị thầy tế độ thì cũng như vậy đối với các vị thầy dạy học, các phận sự đối với các người đệ tử thì tương tợ y như thế đối với người học trò.

Các phận sự dành cho các vị vãng lai, và dành cho các vị thường trú nữa, các vị xuất hành, các vị nói lời tùy hỷ ở nơi thọ thực, và về vị đi khất thực.

Phận sự dành cho các vị ngụ ở rừng, và luôn cả ở các nơi cư ngụ, ở nhà tắm hơi, các nhà vệ sinh, các vị thầy tế độ, đối với người đệ tử.

Phận sự đối với các vị thầy dạy học, tương tợ y như thế đối với người học trò, có mười chín sự việc đã được nói đến ở mười sáu phần.

Trong khi không làm tròn phận sự thì không đầy đủ về giới, vị có giới không trong sạch, có tuệ kém, không có được nhất tâm.

Với tâm bị xáo trộn, không trụ một điểm, không nhìn thấy Pháp một cách đúng đắn, trong khi không nhìn thấy Chánh Pháp, không hoàn toàn thoát khỏi khổ đau.

Trong khi làm đầy đủ phận sự, thì cũng làm đầy đủ về giới, là vị có giới thanh tịnh, có tuệ, đạt được luôn cả nhất tâm.

Tâm không bị xáo trộn, trụ một điểm, nhìn thấy rõ Pháp một cách đúng đắn, trong khi bản thân nhìn thấy Chánh Pháp, vị ấy hoàn toàn thoát khỏi khổ đau.

Chính vì điều ấy, người con trai sáng suốt của đấng Chiến Thắng, nên làm đầy đủ phận sự, lời giáo huấn của đức Phật tối thượng, từ đó hãy đi đến Niết Bàn.”

–ooOoo–

[1] Là vòng bụng ở lỗ rún và hai đầu gối. Xem điều học sekhiya thứ nhất (TTPV 02, trang 488-489).

 

 

TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID & IOS)

* Thuộc TIỂU PHẨM II - HỢP PHẦN - TẠNG LUẬT - TAM TẠNG TIPITAKA | Dịch Việt: Tỳ Khưu Indacanda | Nguồn: Tamtangpaliviet.net
Các bài viết trong sách

Dhamma Paññā

BQT trang Theravāda cố gắng sưu tầm thông tin tài liệu Dhamma trợ duyên quý độc giả tìm hiểu về Dhamma - Giáo Pháp Bậc Giác Ngộ thuyết giảng suốt 45 năm sau khi Ngài chứng đắc trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Chánh Giác vào đêm Rằm tháng 4, tìm hiểu thêm phương pháp thực hành thiền Anapana, thiền Vipassana qua các tài liệu, bài giảng, pháp thoại từ các Thiền Sư, các Bậc Trưởng Lão, Bậc Thiện Trí.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *