Đại Phẩm II

Chương Kaṭhina

Tụng Phẩm Thứ Nhì

  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y. Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y. Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa. Ta sẽ không trở về.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y. Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ lưu tâm đến niềm mong mỏi về y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Niềm mong mỏi về y ấy của vị ấy bị tan vỡ. Sự đổ vỡ của niềm mong mỏi về y là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ lưu tâm đến niềm mong mỏi về y này ngay ở đây.’ Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Niềm mong mỏi về y ấy của vị ấy bị tan vỡ. Sự đổ vỡ của niềm mong mỏi về y là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y và còn chưa quyết định; vị ấy không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ trở về’ và vị ấy cũng không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y và còn chưa quyết định; vị ấy không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ trở về’ và vị ấy cũng không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa. Ta sẽ không trở về.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y và còn chưa quyết định; vị ấy không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ trở về’ và vị ấy cũng không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y và còn chưa quyết định; vị ấy không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ trở về’ và vị ấy cũng không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ lưu tâm đến niềm mong mỏi về y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Niềm mong mỏi về y ấy của vị ấy bị tan vỡ. Sự đổ vỡ của niềm mong mỏi về y là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.

Dứt nhóm mười hai về ‘không như ý mong mỏi.’

*****

  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được như ý mong mỏi và không nhận được không như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được như ý mong mỏi và không nhận được không như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa. Ta sẽ không trở về.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được như ý mong mỏi và không nhận được không như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lựcKaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ lưu tâm đến niềm mong mỏi về y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Niềm mong mỏi về y ấy của vị ấy bị tan vỡ. Sự đổ vỡ của niềm mong mỏi về y là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nghe được (tin) rằng: ‘Nghe nói Kaṭhina tại trú xứ ấy đã được thâu hồi.’ Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Bởi vì Kaṭhina tại trú xứ ấy đã được thâu hồi, vậy ta sẽ lưu tâm đến niềm mong mỏi về y này ngay ở đây.’ Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được như ý mong mỏi và không nhận được không như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nghe được (tin) rằng: ‘Nghe nói Kaṭhina tại trú xứ ấy đã được thâu hồi.’ Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Bởi vì Kaṭhina tại trú xứ ấy đã được thâu hồi, vậy ta sẽ lưu tâm đến niềm mong mỏi về y này ngay ở đây.’ Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được như ý mong mỏi và không nhận được không như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa. Ta sẽ không trở về.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nghe được (tin) rằng: ‘Nghe nói Kaṭhina tại trú xứ ấy đã được thâu hồi.’ Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Bởi vì Kaṭhina tại trú xứ ấy đã được thâu hồi, vậy ta sẽ lưu tâm đến niềm mong mỏi về y này ngay ở đây.’ Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được như ý mong mỏi và không nhận được không như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nghe được (tin) rằng: ‘Nghe nói Kaṭhina tại trú xứ ấy đã được thâu hồi.’ Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Bởi vì Kaṭhina tại trú xứ ấy đã được thâu hồi, vậy ta sẽ lưu tâm đến niềm mong mỏi về y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Niềm mong mỏi về y ấy của vị ấy bị tan vỡ. Sự đổ vỡ của niềm mong mỏi về y là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được như ý mong mỏi và không nhận được không như ý mong mỏi. Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, nghe được (tin) rằng: ‘Nghe nói Kaṭhina tại trú xứ ấy đã được thâu hồi.’ Sự việc nghe được (tin) là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ lưu tâm đến niềm mong mỏi về y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Niềm mong mỏi về y ấy của vị ấy bị tan vỡ. Sự đổ vỡ của niềm mong mỏi về y là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được như ý mong mỏi và không nhận được không như ý mong mỏi. Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về, ta sẽ trở về’ và chờ đợi sự hết hiệu lực Kaṭhina ở bên ngoài. Sự việc vượt qua ranh giới là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được như ý mong mỏi và không nhận được không như ý mong mỏi. Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về, ta sẽ trở về.’ Thời điểm hết hiệu lực Kaṭhina đã đến. Sự hết hiệu lực Kaṭhina của vị tỳ khưu ấy là chung (lượt) với các vị tỳ khưu.

Dứt nhóm mười hai về ‘như ý mong mỏi.’

*****

  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi vì có công việc cần làm nào đó. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì niềm mong mỏi về y sanh khởi. Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi vì có công việc cần làm nào đó. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì niềm mong mỏi về y sanh khởi. Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa. Ta sẽ không trở về.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi vì có công việc cần làm nào đó. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì niềm mong mỏi về y sanh khởi. Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi vì có công việc cần làm nào đó. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì niềm mong mỏi về y sanh khởi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ lưu tâm đến niềm mong mỏi về y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Niềm mong mỏi về y ấy của vị ấy bị tan vỡ. Sự đổ vỡ của niềm mong mỏi về y là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi vì có công việc cần làm nào đó (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì niềm mong mỏi về y sanh khởi. Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi vì có công việc cần làm nào đó (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì niềm mong mỏi về y sanh khởi. Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi vì có công việc cần làm nào đó (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì niềm mong mỏi về y sanh khởi. Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi vì có công việc cần làm nào đó (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì niềm mong mỏi về y sanh khởi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ lưu tâm đến niềm mong mỏi về y này ngay ở đây.’ Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Niềm mong mỏi về y ấy của vị ấy bị tan vỡ. Sự đổ vỡ của niềm mong mỏi về y là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi vì có công việc cần làm nào đó và còn chưa quyết định; vị ấy không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ trở về’ và vị ấy cũng không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì niềm mong mỏi về y sanh khởi. Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi vì có công việc cần làm nào đó và còn chưa quyết định; vị ấy không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ trở về’ và vị ấy cũng không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì niềm mong mỏi về y sanh khởi. Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa. Ta sẽ không trở về.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi vì có công việc cần làm nào đó và còn chưa quyết định; vị ấy không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ trở về’ và vị ấy cũng không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì niềm mong mỏi về y sanh khởi. Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi vì có công việc cần làm nào đó và còn chưa quyết định; vị ấy không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ trở về’ và vị ấy cũng không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì niềm mong mỏi về y sanh khởi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ lưu tâm đến niềm mong mỏi về y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Niềm mong mỏi về y ấy của vị ấy bị tan vỡ. Sự đổ vỡ của niềm mong mỏi về y là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.

Dứt nhóm mười hai về ‘có công việc cần làm.’

*****

  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu và là vị du hành phương xa, ra đi chưa thâu thập phần chia về y. Các vị tỳ khưu đã hỏi vị du hành phương xa ấy rằng: – ‘Này đại đức, ngài đã trú mùa (an cư) mưa ở đâu? Và phần chia về y của ngài đâu?’ Vị ấy nói như vầy: – ‘Tôi đã trú mùa (an cư) mưa ở trú xứ kia và phần chia về y của tôi còn ở nơi ấy.’ Các vị ấy nói như vầy: – ‘Này đại đức, hãy đi và đem y ấy lại. Chúng tôi sẽ làm y cho ngài ở đây.’ Vị ấy đi về lại trú xứ ấy và hỏi các vị tỳ khưu rằng: – ‘Này các đại đức, phần chia về y của tôi đâu?’ Các vị ấy nói như vầy: – ‘Này đại đức, đây là phần chia về y của ngài. Ngài sẽ đi đâu vậy?’ Vị ấy nói như vầy: – ‘Tôi sẽ đi trú xứ kia, các vị tỳ khưu ở đó sẽ làm y cho tôi.’ Các vị ấy nói như vầy: – ‘Này đại đức, được rồi, ngài chớ có đi. Chúng tôi sẽ làm y cho ngài ở đây.’ Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu và là vị du hành phương xa, ra đi ―(như trên)― Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu và là vị du hành phương xa, ra đi ―(như trên)― Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu và là vị du hành phương xa, ra đi chưa thâu thập phần chia về y. Các vị tỳ khưu đã hỏi vị du hành phương xa ấy rằng: – ‘Này đại đức, ngài đã trú mùa (an cư) mưa ở đâu? Và phần chia về y của ngài đâu?’ Vị ấy nói như vầy: – ‘Tôi đã trú mùa (an cư) mưa ở trú xứ kia và phần chia về y của tôi còn ở nơi ấy.’ Các vị ấy nói như vầy: – ‘Này đại đức, hãy đi và đem y ấy lại. Chúng tôi sẽ làm y cho ngài ở đây.’ Vị ấy đi về lại trú xứ ấy và hỏi các vị tỳ khưu rằng: – ‘Này các đại đức, phần chia về y của tôi đâu?’ Các vị ấy nói như vầy: – ‘Này đại đức, đây là phần chia về y của ngài.’ Vị ấy cầm lấy y ấy và đi đến trú xứ kia. Giữa đường đi, các vị tỳ khưu hỏi vị ấy rằng: – ‘Này đại đức, ngài sẽ đi đâu?’ Vị ấy nói như vầy: – ‘Tôi sẽ đi trú xứ kia, các vị tỳ khưu ở đó sẽ làm y cho tôi.’ Các vị ấy nói như vầy: – ‘Này đại đức, được rồi, ngài chớ có đi. Chúng tôi sẽ làm y cho ngài ở đây.’ Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu và là vị du hành phương xa, ra đi chưa thâu thập phần chia về y. Các vị tỳ khưu đã hỏi vị du hành phương xa ấy rằng: – ‘Này đại đức, ngài đã trú mùa (an cư) mưa ở đâu? Và phần chia về y của ngài đâu?’ Vị ấy nói như vầy: – ‘Tôi đã trú mùa (an cư) mưa ở trú xứ kia và phần chia về y của tôi còn ở nơi ấy.’ Các vị ấy nói như vầy: – ‘Này đại đức, hãy đi và đem y ấy lại. Chúng tôi sẽ làm y cho ngài ở đây.’ Vị ấy đi về lại trú xứ ấy và hỏi các vị tỳ khưu rằng: – ‘Này các đại đức, phần chia về y của tôi đâu?’ Các vị ấy nói như vầy: – ‘Này đại đức, đây là phần chia về y của ngài.’ Vị ấy cầm lấy y ấy và đi đến trú xứ kia. Giữa đường đi, các vị tỳ khưu hỏi vị ấy rằng: – ‘Này đại đức, ngài sẽ đi đâu?’ Vị ấy nói như vầy: – ‘Tôi sẽ đi trú xứ kia, các vị tỳ khưu ở đó sẽ làm y cho tôi.’ Các vị ấy nói như vầy: – ‘Này đại đức, được rồi, ngài chớ có đi. Chúng tôi sẽ làm y cho ngài ở đây.’ Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa. Ta sẽ không trở về.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu và là vị du hành phương xa, ra đi ―(như trên)― ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu và là vị du hành phương xa, ra đi chưa thâu thập phần chia về y. Các vị tỳ khưu đã hỏi vị du hành phương xa ấy rằng: – ‘Này đại đức, ngài đã trú mùa (an cư) mưa ở đâu? Và phần chia về y của ngài đâu?’ Vị ấy nói như vầy: – ‘Tôi đã trú mùa (an cư) mưa ở trú xứ kia và phần chia về y của tôi còn ở nơi ấy.’ Các vị ấy nói như vầy: – ‘Này đại đức, hãy đi và đem y ấy lại. Chúng tôi sẽ làm y cho ngài ở đây.’ Vị ấy đi về lại trú xứ ấy và hỏi các vị tỳ khưu rằng: – ‘Này các đại đức, phần chia về y của tôi đâu?’ Các vị ấy nói như vầy: – ‘Này đại đức, đây là phần chia về y của ngài.’ Vị ấy cầm lấy y ấy và đi đến trú xứ kia. Khi đã đi đến trú xứ kia, vị ấy đã khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu và là vị du hành phương xa, ra đi ―(như trên)― ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa. Ta sẽ không trở về.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu và là vị du hành phương xa, ra đi ―(như trên)― ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.

Dứt nhóm chín về ‘chưa thâu thập.’

*****

  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu và là vị có sự trú ngụ thoải mái, đã cầm lấy y rồi ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ đi đến trú xứ có tên thế ấy. Nếu ở nơi ấy có sự thoải mái cho ta, ta sẽ trú ngụ. Nếu không có sự thoải mái cho ta, ta sẽ đi đến trú xứ có tên thế kia. Nếu ở nơi kia có sự thoải mái cho ta, ta sẽ trú ngụ. Nếu không có sự thoải mái cho ta, ta sẽ đi đến trú xứ có tên thế nọ. Nếu ở nơi nọ có sự thoải mái cho ta, ta sẽ trú ngụ. Nếu không có sự thoải mái cho ta, ta sẽ trở về.’ Khi vị ấy đi khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu và là vị có sự trú ngụ thoải mái, đã cầm lấy y rồi ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ đi đến trú xứ có tên thế ấy. Nếu ở nơi ấy có sự thoải mái cho ta, ta sẽ trú ngụ. Nếu không có sự thoải mái cho ta, ta sẽ đi đến trú xứ có tên thế kia. Nếu ở nơi kia có sự thoải mái cho ta, ta sẽ trú ngụ. Nếu không có sự thoải mái cho ta, ta sẽ đi đến trú xứ có tên thế nọ. Nếu ở nơi nọ có sự thoải mái cho ta, ta sẽ trú ngụ. Nếu không có sự thoải mái cho ta, ta sẽ trở về.’ Khi vị ấy đi khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa. Ta sẽ không trở về.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu và là vị có sự trú ngụ thoải mái, đã cầm lấy y rồi ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ đi đến trú xứ có tên thế ấy. Nếu ở nơi ấy có sự thoải mái cho ta, ta sẽ trú ngụ. Nếu không có sự thoải mái cho ta, ta sẽ đi đến trú xứ có tên thế kia. Nếu ở nơi kia có sự thoải mái cho ta, ta sẽ trú ngụ. Nếu không có sự thoải mái cho ta, ta sẽ đi đến trú xứ có tên thế nọ. Nếu ở nơi nọ có sự thoải mái cho ta, ta sẽ trú ngụ. Nếu không có sự thoải mái cho ta, ta sẽ trở về.’ Khi vị ấy đi khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu và là vị có sự trú ngụ thoải mái, đã cầm lấy y rồi ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ đi đến trú xứ có tên thế ấy. Nếu ở nơi ấy có sự thoải mái cho ta, ta sẽ trú ngụ. Nếu không có sự thoải mái cho ta, ta sẽ đi đến trú xứ có tên thế kia. Nếu ở nơi kia có sự thoải mái cho ta, ta sẽ trú ngụ. Nếu không có sự thoải mái cho ta, ta sẽ đi đến trú xứ có tên thế nọ. Nếu ở nơi nọ có sự thoải mái cho ta, ta sẽ trú ngụ. Nếu không có sự thoải mái cho ta, ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về, ta sẽ trở về’ rồi chờ đợi sự hết hiệu lực Kaṭhina ở bên ngoài. Sự việc vượt qua ranh giới là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
  1. Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu và là vị có sự trú ngụ thoải mái, đã cầm lấy y rồi ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ đi đến trú xứ có tên thế ấy. Nếu ở nơi ấy có sự thoải mái cho ta, ta sẽ trú ngụ. Nếu không có sự thoải mái cho ta, ta sẽ đi đến trú xứ có tên thế kia. Nếu ở nơi kia có sự thoải mái cho ta, ta sẽ trú ngụ. Nếu không có sự thoải mái cho ta, ta sẽ đi đến trú xứ có tên thế nọ. Nếu ở nơi nọ có sự thoải mái cho ta, ta sẽ trú ngụ. Nếu không có sự thoải mái cho ta, ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về, ta sẽ trở về.’ Thời điểm hết hiệu lực Kaṭhina đã đến. Sự hết hiệu lực Kaṭhina của vị tỳ khưu ấy là chung (lượt) với các vị tỳ khưu.

Dứt nhóm năm về ‘vị có sự trú ngụ thoải mái.’

*****

  1. Này các tỳ khưu, đây là hai điều vướng bận (và) hai điều không vướng bận của Kaṭhina. Và này các tỳ khưu, hai điều vướng bận của Kaṭhina là gì? Sự vướng bận về trú xứ và sự vướng bận về y. Và này các tỳ khưu, thế nào là sự vướng bận về trú xứ? Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu hoặc là cư ngụ tại trú xứ ấy hoặc là ra đi với sự mong mỏi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Này các tỳ khưu, như vậy là có sự vướng bận về trú xứ. Và này các tỳ khưu, thế nào là sự vướng bận về y? Này các tỳ khưu, trường hợp y của vị tỳ khưu chưa được làm, hoặc là chưa được làm xong, hoặc là niềm mong mỏi về y chưa bị tan vỡ. Này các tỳ khưu, như vậy là có sự vướng bận về y. Này các tỳ khưu, đây là hai điều vướng bận của Kaṭhina.
  1. Và này các tỳ khưu, hai điều không vướng bận của Kaṭhina là gì? Sự không vướng bận về trú xứ và sự không vướng bận về y. Và này các tỳ khưu, thế nào là sự không vướng bận về trú xứ? Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu ra đi từ trú xứ ấy với sự buông bỏ, với sự từ bỏ, với sự dứt bỏ, với sự không quan tâm (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không trở về.’ Này các tỳ khưu, như vậy là có sự không vướng bận về trú xứ. Và này các tỳ khưu, thế nào là sự không vướng bận về y? Này các tỳ khưu, trường hợp y của vị tỳ khưu đã được làm xong, hoặc bị mất, hoặc bị hư hỏng, hoặc bị cháy, hoặc là niềm mong mỏi về y bị tan vỡ. Này các tỳ khưu, như vậy là có sự không vướng bận về y. Này các tỳ khưu, đây là hai điều không vướng bận của Kaṭhina.”

Dứt chương Kaṭhina là thứ bảy.

*****

 Trong chương này có mười hai sự việc.

Một trăm mười tám phần mở đầu đã được giản lược.

Tóm lược chương này

  1. Ba mươi vị tỳ khưu xứ Pāvā đã trú ở Sāketa với tâm phiền muộn. Trải qua mùa (an cư) mưa, các vị đã đi diện kiến đấng Chiến Thắng với các y bị đẫm nước.
  1. Đây là câu chuyện của Kaṭhina và năm điều sẽ trở thành được phép: (ra đi) không phải báo, không mang theo (đủ ba y), tương tợ như thế ấy là việc thọ thực thành nhóm.
  1. Và (được sử dụng nhiều y) theo như nhu cầu, sự phát sanh (về y) sẽ là của các vị đã được thành tựu. Lời đề nghị, và như vầy là được thành tựu, như vầy là không được thành tựu.
  1. Việc được đánh dấu, và luôn cả việc giặt, việc tính toán, và việc cắt, việc kết chỉ tạm, việc may thêm, việc gắn miếng vải làm dấu, việc may chắc chắn, liên quan đến miếng vải viền.
  1. Đường viền quanh, đắp lớp nữa, việc nhuộm, dấu hiệu gợi ý, lời giảng giải, mượn tạm thời, sự tích trữ, việc để qua đêm, chưa được phép, trừ ra ba y ấy.
  1. Ngoại trừ y năm điều, hoặc nhiều hơn, với việc đã được cắt, có sự kết lại, không (thành tựu) trừ phi là cá nhân, được làm đúng đắn, vị đứng ngoài ranh tùy hỷ, Kaṭhina là không thành tựu, đã được thuyết giảng như thế bởi đức Phật.
  1. (Vải) không bị dơ, xem như không bị dơ, tấm choàng cũ, vải quăng bỏ, và vải bỏ ở cửa tiệm, không ra dấu hiệu, việc thuyết giảng, không mượn tạm thời, và không tích trữ.
  1. Không để qua đêm, việc đánh dấu đã làm, và tương tợ như thế với ba y, năm điều hoặc nhiều hơn thế, đã được cắt, việc kết lại đã được làm.
  1. Việc thành tựu do cá nhân, (được làm) đúng đắn, vị đứng trong ranh giới tùy hỷ, như thế là sự thành tựu của Kaṭhina, tám tiêu đề của sự thu hồi.
  1. Các vị ra đi, sự hoàn tất, và sự tự mình dứt khoát, việc bị mất, sự nghe được (tin), sự đổ vỡ của niềm mong mỏi, ranh giới, sự thu hồi là thứ tám.
  1. Cầm lấy y đã làm, vị đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không trở lại,’ sự thu hồi về Kaṭhina ấy của vị ấy là liên quan đến sự ra đi.
  1. Cầm lấy y (chưa làm) đi ra khỏi ranh giới, vị ấy đã suy nghĩ điều này: ‘Ta sẽ nhờ làm và sẽ không trở lại,’ trong việc được hoàn tất là sự thu hồi Kaṭhina.
  1. Cầm lấy, ở ngoài ranh giới, không có ý định: ‘Ta sẽ không trở về,’ sự thu hồi về Kaṭhina ấy của vị ấy là liên quan đến việc tự mình dứt khoát.
  1. Cầm lấy y ra đi khỏi ranh giới đã suy nghĩ điều này: ‘Ta sẽ nhờ làm, và sẽ không trở về,’ trong khi làm (y) của vị ấy bị mất, sự thu hồi về Kaṭhina ấy của vị ấy là liên quan đến sự bị mất.
  1. Cầm lấy (y) rồi ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về,’ rồi nhờ làm y ở bên ngoài, với y đã được làm xong, rồi nghe tin Kaṭhina ở nơi kia đã được thu hồi, sự thu hồi về Kaṭhina ấy của vị ấy là liên quan đến việc nghe.
  1. Cầm lấy (y) rồi ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về,’ rồi nhờ làm y ở bên ngoài, với y đã được làm xong, chờ đợi ở bên ngoài, sự thu hồi về Kaṭhina ấy của vị ấy là liên quan đến sự vượt qua ranh giới.
  1. Cầm lấy (y) rồi ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về,’ rồi nhờ làm y ở bên ngoài, với y đã được làm xong, (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về,’ đã đến thời của việc thu hồi Kaṭhina, sự thu hồi về Kaṭhina ấy của vị ấy sanh lên đồng một lượt với các vị tỳ khưu.
  1. Cầm lấy và mang theo, có bảy, và bảy phương thức đường lối, những trường hợp ra đi với y chưa làm xong là không có đường lối ở nhóm sáu.
  1. Cầm lấy (y) rồi đi ra khỏi ranh, sanh khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nhờ làm,’ có ba điều này: sự làm xong, sự tự mình dứt khoát, và sự bị mất.
  1. Cầm lấy (y và nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không trở về, ta làm ở bên ngoài ranh giới,’ có ba điều này: sự làm xong, sự tự mình dứt khoát, và sự bị mất. Do còn chưa quyết định vị ấy cũng không khởi ý, có ba đường lối hướng dẫn ở bên dưới.
  1. Cầm lấy (y) và ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về, ta làm ở bên ngoài ranh giới,’ vị nhờ làm (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không trở về,’ khi việc hoàn tất là sự thu hồi về Kaṭhina.
  1. Sự tự mình dứt khoát, sự bị mất, nghe được (tin), sự vượt qua ranh giới, được sanh khởi đồng thời cùng với các vị tỳ khưu, như vầy là mười lăm đường lối.
  1. Mang theo (y) chưa được làm xong cũng tương tợ như là mang theo, bốn trường hợp này đây, toàn bộ có mười lăm đường lối.
  1. Không như ý mong mỏi, như ý mong mỏi, và có công việc cần làm, chúng là ba điều, nên hiểu việc ấy theo sự hướng dẫn là ba lượt, mỗi lượt là mười hai, mười hai.
  1. Và chưa thâu thập là chín ở nơi này, thoải mái có năm phương thức ở nơi kia, điều vướng bận, điều không vướng bận, sự tóm tắt đã được thực hiện theo sự hướng dẫn.”

–ooOoo–

TẢI MOBILE APP PHẬT GIÁO THERAVĀDA ĐỂ XEM THÊM NHIỀU THÔNG TIN HỮU ÍCH (ANDROID & IOS)

* Thuộc ĐẠI PHẨM II - HỢP PHẦN - TẠNG LUẬT - TAM TẠNG TIPITAKA |Dịch Việt: Tỳ Khưu Indacanda | Nguồn: Tamtangpaliviet.net

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *