TIỂU BỘ – BỔN SANH III – NHÓM LỚN – BÀI 8 ( TIẾP THEO)

TIỂU BỘ

BỔN SANH III:  NHÓM LỚN – BÀI 8 ( tiếp theo)

▪ 8. VIDHURAJĀTAKAṂ – BỔN SANH BẬC SÁNG SUỐT VIDHURA 

545. CHUYỆN BẬC ĐẠI TRÍ VÔ SONG (Tiền thân Vidhurapandita) (tiếp theo)

5662. Evaṃ samanusāsitvā ñātisaṅghaṃ vicakkhaṇo, parikiṇṇo suhadehi rājānamupasaṅkami.  

Sau khi nhắn nhủ thân bằng quyến thuộc xong, bậc Ðại trí được đám thân hữu vây quanh, cùng đi đến cung vua.

5663. Vanditvā sirasā pāde katvā ca naṃ padakkhiṇaṃ, vidhuro avaca rājānaṃ paggahetvāna añjaliṃ.  

Ðảnh lễ dưới chân vua và chúc tụng vua rất kính cẩn xong, Vidhura chắp tay lại tâu:5664. Ayaṃ maṃ māṇavo neti kattukāmo yathāmatiṃ,
ñātīnatthaṃ pavakkhāmi taṃ suṇohi arindama.

– Thiếu sinh này muốn sử dụng thần theo ý chàng, nên sẽ đem thần đi xa. Thần xin bày tỏ đôi lời vì các thân bằng quyến thuộc còn ở lại, xin hãy nghe thần tâu, hỡi đấng Ðại vương đã chinh phục bao cừu thù. 

5665. Putte ca me udikkhesi yañca maññaṃ ghare dhanaṃ, yathā pecca na hāyetha ñātisaṅgho mayī gate.  

Xin Ðại vương chăm sóc đám thê tử và tài sản trong gia tộc tiểu thần, để khi thần đã đi rồi, thân quyến của thần cũng không bị tàn mạt.

5666. Yatheva khalatī bhumyā bhūmiyāva patiṭṭhati, evetaṃ khalitaṃ mayhaṃ etaṃ passāmi accayaṃ.

Vì khi quả đất rung chuyển, thì mọi vật trên đó đều rung chuyển theo và khi quả đất vững vàng, thì mọi vật mới vững vàng được. Vì thế thần thấy quyến thuộc của thần sẽ suy sụp theo sự suy sụp của thần; thần nhận đó là lỗi của thần vậy.

5667. Sakkā na gantuṃ iti mayha hoti jhatvā vadhitvā idha kātiyānaṃ, idheva hohi iti mayhaṃ ruccati mā tvaṃ agā uttamabhūripañña.

41. Này khanh, không thể bước đi ra,
Ðây chính điều cương quyết của ta.
Khi đã giết xong chàng trẻ ấy,
Khanh cần ở lại chốn này mà.
Ðây là thượng sách cho ta đó,
Bậc Ðại trí, xin chớ bỏ ta!

5668. Mā heva dhammesu manaṃ paṇīdahi atthe ca dhamme ca yutto bhavassu, dhiratthu kammaṃ akusalaṃ anariyaṃ yaṃ katvā pacchā nirayaṃ vajeyya.

42. Ðừng để tâm vào việc bất công,
Hãy tinh cần luyện tập thân tâm,
Ðúng theo Thánh điển đầy thâm nghĩa;
Ô nhục thay là việc ác gian,
Khi đã làm xong điều tội lỗi,
Con người đọa địa ngục sau cùng.

5669. Nevesa dhammo na punetaṃ kiccaṃ ayiro hi dāsassa janinda issaro, ghātetuṃ jhāpetuṃ athopi bhattuṃ na ca mayhaṃ kodhatthi vajāmi cāhaṃ.

43. Chuyện này không phải lẽ công bằng,
Ðây chẳng phải là việc đáng làm,
Tâu Chúa công, vua là tối thượng,
Quyền uy với kẻ dưới tồi tàn,
Muốn đem giết nó hay thiêu sống,
Thần giã từ không dám hận sân.

5670. Jeṭṭhaputtaṃ upaguyha vineyya hadaye daraṃ, assupuṇṇehi nettehi pāvisi so mahāgharaṃ.

Sau khi ôm hôn trưởng nam và đè nén nỗi đau đớn trong lòng, mắt đẫm lệ, bậc Ðại Sĩ bước vào cung thất.

5671. Sālāva sampamathitā māḷutena pamadditā, senti puttā ca dārā ca vidhurassa nivesane.  

Gia quyến của Trí giả Vidhura nằm phủ phục khắp cung điện như vườn cây sàla ngã nghiêng tơi tả trong cơn bão táp.

5672. Itthīsahassaṃ bhariyānaṃ dāsīsattasatāni ca, bāhā paggayha pakkanduṃ vidhurassa nivesane.  

Cả ngàn phu nhân, bảy trăm nữ tỳ dang tay ra than khóc trong cung của Vidhura.

5673. Orodhā ca kumārā ca vesiyānā ca brāhmaṇā, bāhā paggayha pakkanduṃ vidhurassa nivesane.  

Các hậu phi, vương tử, các Vệ-xá, Bà-la-môn, đang dang tay ra than khóc trong cung Vidhura.

6574. Hatthārūhā anīkaṭṭhā rathikā pattikārakā, bāhā paggayha pakkanduṃ vidhurassa nivesane.  

Các quan quản tượng, vệ sĩ, quản xa, bộ binh, đều dang tay than khóc trong cung của Vidhura.

6575. Samāgatā jānapadā negamā ca samāgatā,bāhā paggayha pakkanduṃ vidhurassa nivesane.

Thần dân khắp chốn thành thị, thôn quê tụ tập lại đồng dang tay than khóc trong cung của Vidhura.

5676. Itthīsahassaṃ bhariyānaṃ dāsīsattasatāni ca, bāhā paggayha pakkanduṃ kasmā no vijahessasi.  

5677. Orodhā ca kumārā ca vesiyānā ca brāhmaṇā, bāhā paggayha pakkanduṃ kasmā no vijahessasi.

5678. Hatthārūhā anīkaṭṭhā rathikā pattikārakā, bāhā paggayha pakkanduṃ kasmā no vijahessasi.

6579. Samāgatā jānapadā negamā ca samāgatā, bāhā paggayha pakkanduṃ kasmā no vijahessasi.

5680. Katvā gharesu kiccāni anusāsitvā sakaṃ janaṃ, mittāmacce ca bhacce ca puttadāre ca bandhave.

Sau khi hoàn tất mọi việc cần thiết trong cung thất và chỉ bảo thân bằng quyến thuộc thê nhi, quân sư xong,

5681. Kammantaṃ saṃvidhetvāna ācikkhitvā ghare dhanaṃ, nidhiñca iṇadānañca puṇṇakaṃ etadabravi.

sau khi sắp đặt mọi công việc bên ngoài cần lưu tâm và thông báo mọi kho vựa trong nhà, kho gia bảo cùng nợ nần phải trả, ngài nói với Punnaka:

5682. Avasī tuvaṃ mayha tīhaṃ agāre katāni kiccāni gharesu mayhaṃ, anusāsitā puttadārā mayā ca karoma kaccāna yathā matiṃ te.

– Chàng đã ở lại trong cung ta ba ngày rồi, ta đã làm xong mọi việc cần thiết, chỉ dạy vợ con xong xuôi, giờ đây ta hãy làm theo ý chàng, hỡi chàng Ca-chiên-diên.

5683. Sace hi katte anusāsitā te puttā ca dārā ca anujīvino ca, handehi dāni taramānarūpo dīgho hi addhāpi ayaṃ puratthā.  

– Nếu ngài đã hành động theo ý ngài, đã chỉ bảo vợ con, tùy tướng xong rồi, thì than ôi, giờ đây ngài đứng đó như người sắp vượt biển, cả một cuộc hành trình dài trước mắt ngài.

5684. Asambhītova gaṇhāhi ājānīyassa vāladhiṃ, idaṃ pacchimakaṃ tuyhaṃ jīvalokassa dassanaṃ.  

Vậy đừng sợ hãi gì, hãy nắm lấy đuôi tuấn mã cao sang của ta và đây là lần cuối ngài thấy cảnh nhân gian.

5685. Sohaṃ kissa nu bhāyissaṃ yassa me natthi dukkataṃ, kāyena vācā manasā yena gaccheyya duggatiṃ.  

– Ta còn phải sợ ai chứ, khi ta không hề làm ác đối với ai từ thân, ngữ, ý, thì làm sao ta gặp tai họa được?

5686. So assarājā vidhuraṃ vahanto pakkāmi vehāsayamantalikkhe, sākhāsu selesu assajjamāno kāḷāgiriṃ khippamupāgamāsi.

Ngựa chúa mang Vidhura lên bầu trời, chẳng bao lâu đến ngọn Hắc Sơn mà chẳng đụng vào cây cối núi non chập chùng.

5687. Itthīsahassaṃ bhariyānaṃ dāsīsattasatāni ca, bāhā paggayha pakkanduṃ yakkho brāhmaṇavaṇṇena vidhuraṃ ādāya gacchati. – pe–

Trong khi Punnaka đem bậc Ðại Sĩ đi như vậy, các con ngài cùng nhiều người đến chứng kiến đi vào cung thất của ngài. Khi họ không thấy bậc Ðại Sĩ đâu cả, họ liền khóc lóc thảm thiết và ngã sóng sượt như thể chân cẳng họ đã đứt lìa. Rồi khi họ thấy và nghe bậc Ðại Sĩ đang lúc ngài bay lên trời mà chẳng rõ duyên cớ gì, họ lại than khóc đi thẳng vào hoàng môn, với đám dân chúng theo sau. Vua nghe tiếng than khóc rền rỉ liền mở cửa sổ ra hỏi tại sao họ than khóc như vậy. Họ trình:
– Tâu Ðại vương, đó chẳng phải là chàng Bà-la-môn nào cả, mà chính thần Dạ-xoa giả dạng Bà-la-môn mang bậc Trí giả đi mất rồi. Không có ngài, chúng thần không thiết sống nữa;

5688. Samāgatā jānapadā negamā ca samāgatā, bāhā paggayha pakkanduṃ yakkho brāhmaṇavaṇṇena vidhuraṃ ādāya gacchati.  

5689. Itthīsahassaṃ bhariyānaṃ dāsīsattasatāni ca, bāhā paggayha pakkanduṃ paṇḍito so kuhiṃ gato.

–pe–

5690. Samāgatā jānapadā negamā ca samāgatā, bāhā paggayha pakkanduṃ paṇḍito so kuhiṃ gato.  

5691. Sace so sattarattena paṇḍito nāgamisasti, sabbe aggiṃ pavekkhāma natthattho jīvitena no.  

Nếu ngài không trở về trong vòng bảy ngày nữa, chúng thần sẽ chất gỗ hàng trăm hàng ngàn xe và tự thiêu cả cho rồi.

5692. Paṇḍito ca viyatto ca vibhāvī ca vicakkhaṇo, khippaṃ mocessatattānaṃ mā bhātha āgamissati.  

44. Thật đại hiền là bậc Trí nhân,
Uyên thâm và đủ mọi tài năng;
Không lâu ngài tự tìm đường thoát,
Ngài sẽ trở lui, chớ hãi hùng.

Antarapeyyālo.

(Dứt) Phần Giản Lược Ở Đoạn Giữa.

5693. So tattha gantvāna vicintayanto uccāvacā cetanakā bhavanti, imassa jīvena na hatthi kiñci hantvānimaṃ hadayaṃ ādiyissaṃ.

Khi đã đến nơi, chàng nghĩ thầm: “Loài có trí hiện hữu trong nhiều đẳng cấp. Người này sống, ta chẳng ích gì, vậy ta hãy giết y và lấy con tim”.

5694. So tattha gantvāna pabbatamantarasmiṃ anto pavisitvā paduṭṭhacitto, asaṃvutasmiṃ jagatippadese adhosiraṃ dhārayi kātiyāno.

Sau khi đến đó và vào trong núi, Kàtiyàna với tâm địa ác độc nắm lấy đầu dốc ngài ngược xuống khoảng không gian bao la.

5695. So lambamāno narake papāte mahabbhaye lomahaṃse vidugge, asantasaṃ kurūnaṃ kattaseṭṭho iccabravī puṇṇakaṃ nāma yakkhaṃ.

Trong khi ngài lơ lửng như ở trên bờ địa ngục, cảnh tượng thật kinh hoàng, vô cùng nguy hiểm, khó vượt qua, bậc Hiền trí đệ nhất của toàn dân Câu-lâu vẫn không nao núng bảo chàng:

– Bản chất ngươi thật hèn hạ, mặc dù có lúc ngươi đã mang một hình tướng thật cao sang; ngươi phóng dật tột cùng mặc dù mang hình hài một vị khổ hạnh tự chế, ngươi đang phạm một việc ác độc và kỳ quái, không có gì tốt đẹp trong bản chất của ngươi cả. Tại sao ngươi lại giết ta, khi ngươi muốn thấy ta rơi xuống vực thẳm này? Tướng mạo ngươi có vẻ siêu phàm, hãy cho ta biết ngươi là loại thiên thần gì?

5696. Ariyāvakāsosi anariyarūpo asaññato saññatasannikāso, accāhitaṃ kammaṃ karosi ludraṃ bhāve ca te kusalaṃ natthi kiñci.  

– Bản chất ngươi thật hèn hạ, mặc dù có lúc ngươi đã mang một hình tướng thật cao sang; ngươi phóng dật tột cùng mặc dù mang hình hài một vị khổ hạnh tự chế, ngươi đang phạm một việc ác độc và kỳ quái, không có gì tốt đẹp trong bản chất của ngươi cả.

5697. Yaṃ maṃ papātasmiṃ papātumicchasi ko nu tavattho maraṇena mayhaṃ, amānusasseva te ajja vaṇṇo ācikkha me tvaṃ katamāsi devatā.

Tại sao ngươi lại giết ta, khi ngươi muốn thấy ta rơi xuống vực thẳm này? Tướng mạo ngươi có vẻ siêu phàm, hãy cho ta biết ngươi là loại thiên thần gì?

5698. Yadi te suto puṇṇako nāma yakkho rañño kuverassa hi so sajīvo, bhūmindharo varuṇo nāma nāgo brahā sucī vaṇṇabalūpapanno.  

– Có lẽ ngài đã nghe danh thần Dạ-xoa Punnaka, là đại thần của vua Kuvera. Có một Long vương cai trị địa giới tên gọi Varuna, thật oai hùng, liêm khiết, có đầy đủ phong thái tốt đẹp cùng dũng lực.

5699. Tassānujaṃ dhītaraṃ kāmayāmi irandatiṃ nāma sā nāgakaññā, tassā sumajjhāya piyāya hetu patārayiṃ tuyha vadhāya dhīra.  

Ta mơ ước công chúa, con của ngài, một Long nữ tên gọi Irandatì, vì yêu nương tử diễm kiều ấy nên ta đã quyết tâm sát hại ngài đấy, thưa bậc Trí giả.

5700. Mā heva tvaṃ yakkha ahosi mūḷho naṭṭhā bahū duggahitena lokā, kinte sumajjhāya piyāya kiccaṃ maraṇena me iṅgha suṇoma sabbaṃ.

45. Này chớ bị lừa, hỡi Dạ-xoa,
Nhiều người bị hại bởi lầm to,
Việc chàng yêu quý nàng Long nữ,
Nào có liên quan việc giết ta?
Này hãy mau lên, thần đại lực,
Kể ta nghe mọi chuyện kia mà.

5701. Mahānubhāvassa mahoragassa dhītukāmo ñātibhatohamasmi, taṃ yācamānaṃ sasuro avoca yathā maṃ aññiṃsu sukāmanītaṃ.

46. Vì yêu ái nữ đại Long vương,
Ta hội ý thân tộc của nàng,
Và lúc ta cầu hôn thiếu nữ,
Nhạc gia đã nói với ta rằng
Các ngài hiểu mối tình say đắm:

5702. Dajjemu kho te sutanuṃ sunettaṃ sucimhitaṃ candanalittagattaṃ, sace tuvaṃ hadayaṃ paṇḍitassa dhammena laddhā idhamāharesi, etena vittena kumāri labbhā nāññaṃ dhanaṃ uttariṃ patthayāma.

“Ta sẽ ban chàng vị quý nương
Hình dáng yêu kiều, mắt diễm lệ
Nụ cười tươi đẹp ngát trầm hương.

47. Nếu chàng đem sính lễ vương gia,
Tim của Trí nhân Vi-dhu-ra,
Chiếm được nhờ công bằng thắng trận,
Công nương được gả giá này mà,
Chúng ta không nhận quà gì khác”.

5703. Evaṃ na mūḷhosmi suṇohi katte na cāpi me duggahitatthi kiñci, hadayena te dhammaladdhena nāgā irandatiṃ nāgakaññaṃ dadanti.

Như vậy ta đâu bị đánh lừa?
Hỡi bậc chánh chân nghe thật kỹ,
Không gì lầm lẫn về phần ta.
48. Long vương sẽ gả vị công nương,
Ðổi trái tim nhờ thắng chánh chân,

5704. Tasmā ahaṃ tuyha vadhāya yutto evaṃ mamattho maraṇena tuyhaṃ, idheva taṃ narake pātayitvā hantvāna taṃ hadayaṃ ādiyissaṃ.  

Chính bởi điều này ta đã quyết,
Giết ngài theo cách chúng ta cần,
Nếu ta ném xác ngài trong vực
Ta sẽ giết ngài, lấy quả tâm!

5705. Khippaṃ mamaṃ uddhara kātiyāna hadayena me yadi te atthi kiccaṃ, ye kecime sādhunarassa dhammā sabbeva te pātukaromi ajja.  

49. Hãy đặt ta ngay thẳng tức thì,
Nếu chàng cần có trái tim kia,
Hôm nay ta thuyết cho chàng rõ
Pháp của thiện nhân, hãy lắng nghe.

5706. Sa puṇṇako kurūnaṃ kattaseṭṭhaṃ nagamuddhani khippaṃ patiṭṭhapetvā, assatthamāsīnaṃ samekkhiyāna paripucchi kattāraṃ anomapaññaṃ.

Punnaka, sau khi vội vàng đặt vị đệ nhất thiện nhân của xứ Câu-lâu xuống đỉnh núi, liền hỏi bậc Ðạo Sư đại trí, trong khi ngài ngồi nhìn cây pipul (cây đa):

5707. Samuddhaṭo mesi tuvaṃ papātā hadayena te ajja mamatthi kiccaṃ, ye kecime sādhunarassa dhammā sabbeva me pātukarohi ajja.

– Ta đã đưa ngài lên từ vực thẳm, ta cần quả tim ngài hôm nay, vậy hãy giảng cho ta nghe Pháp lành của thiện nhân.

5708. Samuddhaṭo tyasmi ahaṃ papātā hadayena me yadi te atthi kiccaṃ, ye kecime sādhunarassa dhammā sabbeva te pātukaromi ajja.

– Ta đã được chàng cứu khỏi vực thẳm, nếu chàng cần trái tim ta, ta nguyện thuyết Pháp lành của thiện nhân cho chàng nghe hôm nay.

5709. Yātānuyāyī ca bhavāhi māṇava addañca pāṇiṃ parivajjayassu, mā cassu mittesu kadāci dūbhī mā ca vasaṃ asatīnaṃ nigacche.

50. Chàng hãy theo đường đã vạch ra,
Chùi cho thật sạch bàn tay dơ,
Đừng bao giờ phản bội bằng hữu,
Đừng rớt vào uy lực nữ ma.

5710. Kathannu yātaṃ anuyāyi hoti addañca pāṇiṃ dahate kathaṃ so, asatī ca kā ko pana mittadubbho akkhāhi me pucchito etamatthaṃ.

– Thế nào đi theo con đường đã vạch sẵn? Thế nào là đốt đi bàn tay lấm dơ? Những ai là nữ nhân bất tịnh? Những ai phản bội thân bằng? Xin ngài nói rõ theo yêu cầu của ta.

5711. Asanthutaṃ nopi ca diṭṭhipubbaṃ yo āsanenāpi nimantayeyya, tasseva atthaṃ puriso kareyya yātānuyāyīti tamāhu paṇḍitā.

– Kẻ nào mời ta vào nghỉ ngơi khi ta là lữ khách chưa hề quen biết trước đây, ta hãy làm theo họ. Bậc Trí giả gọi đó là người đi theo con đường đã vạch sẵn.

5712. Yassekarattimpi ghare vaseyya yatthannapānaṃ puriso labhetha, na tassa pāpaṃ manasāpi cetaye addañca pāṇiṃ dahate mittadubbho.  

Ta trú chân trong bất kỳ nhà nào dù chỉ qua một đêm và được mời ăn uống, thì ta đừng có ý nghĩ xấu trong đầu về người đó, kẻ nào phản bội bạn hữu là đốt một bàn tay vô tội.

5713. Yassa rukkhassa chāyāya nisīdeyya sayeyya vā, na tassa sākhaṃ bhañjeyya mittadubbho hi pāpako.  

Ðừng bẻ cành cây đã cho ta bóng mát khi nằm ngồi, kẻ phản bội bạn bè thật hèn hạ.

5714. Puṇṇampi cetaṃ paṭhaviṃ dhanena dajjitthiyā puriso sammatāya, laddhā khaṇaṃ atimaññeyya tampi tāsaṃ vasaṃ asatīnaṃ na gacche.  

Hãy trao tặng mọi thứ vàng bạc của cải ở đời cho nữ nhân mà ta đã lựa chọn, tuy thế nữ nhân sẽ khinh bỉ ta khi có dịp; vậy đừng rơi vào uy lực của các nữ nhân bất tịnh.

5715. Evaṃ kho yātaṃ anuyāyi hoti addañca pāṇiṃ dahate punevaṃ, asatī ca sā so pana mittadubbho so dhammiyo hohi jahassu adhammaṃ.

Như thế là một người biết theo đạo lộ đã vạch sẵn; thế là người ấy đốt cháy bàn tay vấy bẩn; đây là nữ nhân bất tịnh; đây là kẻ phản bội bằng hữu; còn kia là chính nhân, vậy hãy từ bỏ mọi bất công sai trái.

Sādhunaradhammakaṇḍaṃ.

Phẩm Nguyên Tắc Của Người Đạo Đức.

5716. Avasiṃ ahaṃ tuyha tīhaṃ agāre annena pānena upaṭṭhitosmi, mitto mamāsi visajāmahaṃ taṃ kāmaṃ gharaṃ uttamapañña gaccha.

– Ta đã ở lại ba ngày trong nhà ngài, ta đã được ngài cung phụng thức ăn thức uống, ngài là bằng hữu của ta, ta sẽ để ngài đi, hỡi bậc Trí giả tối thắng, ngài cứ trở về nhà ngài theo ý nguyện.

5717. Api hāyatu nāgakulassa attho alampi me nāgakaññāya hotu, so tvaṃ sakeneva subhāsitena muttosi me ajja vadhāya pañña.

Ngoài ra những việc liên quan đến dòng giống Long vương đều hủy bỏ, ta không cần gì Long nữ nữa nhờ những lời lẽ chính đáng của ngài, nên ngài được thoát khỏi tai họa do ta giáng xuống hôm nay.

5718. Handa tuvaṃ yakkha mamampi nehi sasuraṃ nu te atthaṃ mayī carassu, mayampi nāgādhipatiṃ vimānaṃ dakkhemu nāgassa adiṭṭhapubbaṃ.

51. Chàng hãy đưa ta, hỡi Dạ-xoa,
Ðến thăm nhạc phụ của chàng mà,
Rồi ta sẽ chỉ cho rồng chúa,
Cung điện Long vương thuở đã qua,
Ngài chẳng bao giờ trông thấy được,
Hãy làm việc tốt nhất cho ta.

5719. Yaṃ ve narassa ahitāya assa na taṃ pañño arahati dassanāya,atha kena vaṇṇena amittagāmaṃ tuvampicchasi uttamapañña gantuṃ.

52. Bậc Trí không nên để mắt trông,
Những gì không lợi lạc thường nhân,
Tại sao bậc Trí vô song địch,
Ước muốn ra đi giữa địch quân?

5720. Addhā pajānāmi ahampi etaṃ na taṃ pañño arahati dassanāya, pāpañca me natthi kataṃ kuhiñci tasmā na saṅke maraṇāgamāya.  

53. Quả thật ta đây biết rõ rành,
Trí nhân chỉ để ý điều lành,
Nhưng không phạm tội bao giờ cả,
Sao tử thần ta phải hãi kinh?

5721. Handa ca ṭhānaṃ atulānubhāvaṃ. mayā sahā dakkhisi ehi katte, yatthacchati naccagītehi nāgo rājā yathā vessavaṇo naliññaṃ.  

– Này bậc Trí giả, ngài sẽ cùng ta chiêm ngưỡng thế giới huy hoàng vô song, nơi Long vương ngự trị giữa tiếng đàn ca múa hát chẳng khác nào Thiên vương Vessavana (Tỳ-sa-môn) ở ngự viên Nalinì vậy.

5722. Taṃ nāgakaññā caritaṃ gaṇena nikīḷitaṃ niccamaho ca rattiṃ, pahūtamālyaṃ bahupupphachannaṃ obhāsatī vijjurivantalikkhe.  

Có biết bao đoàn Long nữ xinh tươi với bao trò giải trí suốt sáng thâu đêm, cùng với trăm hoa đua sắc, khiến cung điện sáng rực như ánh chớp giữa không gian.

5723. Annena pānena upetarūpaṃ nacceti gītehi ca vāditehi, paripūraṃ kaññāhi alaṅkatāhi upasobhati vatthapiḷandhanena.  

Ðầy đủ sơn hào hải vị, mỹ tửu, ca múa, đàn sáo, các Long nữ với trang phục diễm kiều, cung điện sáng ngời với xiêm y và trân bảo.

5724. So puṇṇako kurūnaṃ kattaseṭṭhaṃ nisīdayi pacchato āsanasmiṃ, ādāya kattāraṃ anomapaññaṃ upānayī bhavanaṃ nāgarañño.

Rồi Punnaka đặt vị đệ nhất thiện nhân của xứ Câu-lâu ngồi đằng sau chàng và mang bậc Hiền trí lỗi lạc ấy đến cung Long vương.

5725. Patvāna ṭhānaṃ atulānubhāvaṃ aṭṭhāsi kattā pacchato puṇṇakassa, sāmaggipekkhī pana nāgarājā pubbeva jāmātaramajjhabhāsatha.  

Khi đến cung điện huy hoàng vô song ấy, bậc hiền trí đứng sau Punnaka và Long vương nhìn thấy sự hòa hợp giữa hai vị, liền nói với phò mã tương lai như ngài đã nói trước kia:

5726. Yannu tuvaṃ agamā maccalokaṃ anvesamāno hadayaṃ paṇḍitassa, kacci samiddhena idhānupatto ādāya kattāraṃ anomapaññaṃ.  

– Khanh đã lên cõi nhân gian, đi tìm quả tim của bậc Hiền trí. Nay phải chăng khanh đã chiến thắng trở về, mang theo bậc Ðại trí vô song kia?

5727. Ayaṃ hi so āgato yaṃ tvamicchasi dhammena laddho mama dhammapālo, taṃ passatha sammukhā bhāsamānaṃ sukho have sappurisehi saṅgamo.

– Người mà Ðại vương mong cầu đã đến, đó là bậc bảo hộ tiểu thần trong mọi việc, người mà thần đã chiếm được bằng phương tiện chính đáng. Ðại vương hãy xem ngài thuyết Pháp trước Ðại vương. Diện kiến với thiện nhân sẽ đem lại an lạc.

Kāḷāgirikaṇḍaṃ.

(Dứt) Phẩm Núi Kāḷāgiri.

5728. Adiṭṭhapubbaṃ disvāna macco maccubhayaddito, vyamhito nābhivādeti nayidaṃ paññavatāmiva.

54. Người này đang đứng ngắm nhìn ta,
Rồng chúa, người chưa thấy trước kia,
Nên hoảng hốt vì lòng sợ chết,
Giờ không thể nói được lời ra,
Với ta, trong lúc đầy kinh hãi,
Ðây chẳng phải người Ðại trí mà!

5729. Na camhi vyamhito nāga na ca maccubhayaddito, na vajjho abhivādeyya vajjhaṃ vā nābhivādaye.  

55. Thần không sợ, tấu Chúa rồng linh,
Bởi cái chết, thần chẳng hãi kinh,
Nhưng tội nhân không quyền được nói,
Với đao phủ nọ sắp hành hình,
Và ngài cũng chẳng nên đòi hỏi,
Kẻ tội phạm kia đối đáp mình.

5730. Kathaṃ nu abhivādeyya abhivādāpayetha ve, yaṃ naro hantumiccheyya taṃ kammaṃ na upapajjati.  

5731. Evametaṃ yathā brūsi saccaṃ bhāsasi paṇḍita, na vajjho abhivādeyya vajjhaṃ vā nābhivādaye.  

56. Ðúng như ngài nói, hỡi Hiền nhân,
Ngài nói chánh chân: Một tội nhân,
Không quyền nói với người hành quyết,
Người ấy cũng không hỏi tội nhân!

5732. Kathaṃ nu abhivādeyya abhivādāpayetha ve, yaṃ naro hantumiccheyya taṃ kammaṃ na upapajjati.  

5733. Asassataṃ sassataṃ nu tavayidaṃ iddhī jutī balaviriyūpapatti, pucchāmi taṃ nāgarājetamatthaṃ kathannu te laddhamidaṃ vimānaṃ.

– Cảnh vinh quang, huy hoàng, oai lực cùng dòng dõi Long vương của Đại vương đều phải chịu sinh diệt, chưa phải trường tồn bất biến, thần xin hỏi Ðại vương: Tâu Ðại vương, làm thế nào ngài hưởng được cung điện này?

5734. Adhicca laddhaṃ pariṇāmajaṃ te sayaṃ kataṃ udāhu devehi dinnaṃ, akkhāhi me nāgarājetamatthaṃ yatheva te laddhamidaṃ vimānaṃ.

Có phải không do duyên cớ gì cả hoặc do một nhân duyên trước kia phát khởi ra chăng? Có phải do ngài tạo ra hay do chư Thiên ban xuống? Xin hãy giải thích cho thần rõ, tâu Long vương, làm thế nào Ðại vương hưởng được cung điện này?

5735. Nādhicca laddhaṃ na pariṇāmajaṃ me na sayaṃ kataṃ napi devehi dinnaṃ, sakehi kammehi apāpakehi puññehi me laddhamidaṃ vimānaṃ.

– Chẳng phải không có nguyên nhân gì mà ta hưởng được cảnh này, cũng không phải do một nhân duyên nào trước kia phát khởi ra, cũng không phải do ta tạo hay chư Thiên ban xuống, mà ta hưởng thụ cảnh này do công đức của ta đạt được.

5736. Kiṃ te vataṃ kiṃ pana brahmacariyaṃ kissa suciṇṇassa ayaṃ vipāko, iddhī jutī balaviriyūpapatti idaṃ ca te nāga mahāvimānaṃ.

– Ðại vương phát nguyện ra sao? Và thực hành thánh hạnh như thế nào? Thiện nghiệp nào đã đưa lại phước quả này? Ðó là cảnh vinh quang, huy hoàng, uy lực và dòng dõi Long vương của ngài cùng cung điện này, tâu Long vương.

5737. Ahañca bhariyā ca manussaloke saddhā ubho dānapatī ahumhā, opānabhūtaṃ me gharaṃ tadāsi santappitā samaṇabrāhmaṇā ca.

– Ở cõi trần thế, trẫm cùng vương hậu đều rất tín thành và đầy lòng nhân từ: tư thất của trẫm biến thành khách đường. Các Sa-môn, Bà-la-môn được cung phụng ẩm thực linh đình tại đó.

5738. Mālañca gandhañca vilepanañca padīpiyaṃ seyyamupassayañca, acchādanaṃ sayanaṃ annapānaṃ sakkacca dānāni adamha tattha.  

Vòng hoa, hương liệu, dầu thơm, đèn đuốc, tọa sàng, tư phòng, y phục, lương thực trẫm đều chuyên tâm cúng dường quảng đại tại đó.

5739. Taṃ me vataṃ taṃ pana brahmacariyaṃ tassa suciṇṇassa ayaṃ vipāko, iddhī jutī balaviriyūpapatti idañca me dhīra mahāvimānaṃ.  

Ấy là hạnh nguyện và cách hành trì công đức của trẫm; còn đây là phước quả của công đức ấy: Cảnh vinh quang, huy hoàng, dòng dõi Long vương cùng cung điện này, thưa bậc Trí giả.

5740. Evaṃ ce te laddhamidaṃ vimānaṃ jānāsi puññānaṃ phalūpapatti, tasmā hi dhammaṃ cara appamatto yathā vimānaṃ puna māvasesi.  

– Nếu Ðại vương hưởng được cung điện này bằng cách ấy, Ðại vương đã thấu hiểu quả báo của thiện nghiệp và luân hồi sinh tử, vậy thì xin Ðại vương tinh tấn hành trì công đức để đời sau lại tái sinh vào chốn cung đình.

5741. Nayidha santi samaṇabrāhmaṇā vā yesannapānāni dademu katte, akkhāhi me pucchito etamatthaṃ yathā vimānaṃ puna māvasema.  

– Không có vị Sa-môn, Bà-la-môn nào đến đây để trẫm cúng dường vật thực, vậy thưa Tôn giả, xin cho trẫm biết điều trẫm đang mong cầu, đó là làm cách nào để trẫm lại có thể tái sinh vào chốn cung đình?

5742. Bhogī hi te santi idhūpapannā puttā ca dārā anujīvino ca, tesu tuvaṃ vacasā kammanā ca asampaduṭṭho va bhavāhi niccaṃ.  

– Có nhiều rồng rắn tái sinh trong chốn này, cùng với quyến thuộc, thê nhi, nô tỳ của chúng, vậy xin Ðại vương đừng sát hại chúng bất kỳ bằng lời nói hay hành động.

5743. Evaṃ tuvaṃ nāga asampadosaṃ anupālayaṃ vacasā kammanā ca, ṭhatvā idha yāvatāyuṃ vimāne uddhaṃ ito gacchasi devalokaṃ.

 Xin Ðại vương thực hành thiện pháp trong lời nói cũng như hành động. Thế là Ðại vương sẽ được sống trọn đời trong cung điện này và khi từ trần sẽ lên cõi chư Thiên.

5744. Addhā hi so socati rājaseṭṭho tayā vinā yassa tuvaṃ sajīvo, dukkhūpanītopi tayā samecca vindeyya poso sukhamāturopi.

– Vị đệ nhất minh quân quả thật đang ưu sầu vì vắng ngài, vì ngài là cận thần của Ðại vương ấy; một khi ngài đã trở về đó, dù nay đang gặp hoạn nạn, khổ đau, thì người như ngài cũng sẽ chóng tìm được an lạc.

745. Addhā sataṃ bhāsasi nāga dhammaṃ anuttaraṃ atthapadaṃ suciṇṇaṃ, etādisīyāsu hi āpadāsu paññāyate mādisānaṃ viseso.

– Ðại vương thật đã phán lên những lời cao quý của thiện nhân, đó là Chánh pháp tối thượng, chính trong những cơn nguy biến của cuộc đời như thế này, mà đặc tính của những kẻ như tiểu thần mới được sáng tỏ.

5746. Akkhehi no tāyaṃ mudhā nu laddho akkhehi no tāyamajesi jūte, dhammena laddho iti tāya māha kathaṃ tuvaṃ hatthamimassamāgato.  

57. Chàng chiếm ngài không trả giá sao?
Chàng hơn ngài lúc trổ tài cao?
Chàng tâu thắng cuộc công bình lắm,
Ngài thuộc quyền chàng bởi cách nào?

5747. Yo missaro tattha ahosi rājā tamayamakkhehi ajesi jūte, so maṃ jito rājā imassadāsi dhammena laddhosmi asāhasena.  

58. Pun-na-ka thắng cuộc tranh tài,
Với Chúa thượng tôi lúc đánh bài,
Ngài đã tặng tôi vì chiến bại,
Công bằng chàng thắng chẳng gì sai.

5748. Mahorago attamano udaggo sutvāna dhīrassa subhāsitāni, hatthe gahetvāna anomapaññaṃ pāvekkhi bhariyāya tadā sakāse.  

Long vương vô cùng hân hoan khi nghe những lời lẽ cao quý của bậc Hiền nhân, liền nắm tay bậc Ðại trí đệ nhất ấy đưa vào diện kiến vương hậu:

5749. Yena tvaṃ vimale paṇḍu yena bhattaṃ na ruccati, na ca me tādiso vaṇṇo ayameso tamonudo.  

– Này Vimalà, vì vị này mà ái khanh đã xanh xao, hao mòn vóc ngọc bấy lâu, cao lương đã mất hương vị dưới mắt khanh,

5750. Yassa te hadayenattho āgatāyaṃ pabhaṅkaro, tassa vākyaṃ nisāmehi dullabhaṃ dassanaṃ puna.  

vì trái tim của vầng nhật này mà khanh đã chuốc lấy phiền não bấy lâu, nay hãy nghe lời ngài cho kỹ, khanh sẽ không còn dịp gặp lại ngài nữa đâu.

5751. Disvāna taṃ vimalā bhūripaññaṃ dasaṅguliṃ pañjaliṃ paggahetvā, haṭṭhena bhāvena patītarūpā iccabravi kurūnaṃ kattaseṭṭhaṃ.  

Khi Vimalà trông thấy bậc đệ nhất Hiền trí, liền chắp tay cung kính và thưa với bậc đệ nhất Hiền trí của xứ Câu-lâu với tất cả lòng hoan hỷ:

5752. Adiṭṭhapubbaṃ disvāna macco maccubhayaddito, vyamhito nābhivādeti na idaṃ paññavatāmiva.  

59. Người này đang đứng ngắm nhìn ta,
Rồng chúa, người chưa thấy trước kia,
Nên hoảng hốt vì lòng sợ chết,
Giờ không thể nói được lời ra,
Với ta, trong lúc đầy kinh hãi,
Ðây chẳng phải người đại trí mà.

5753. Na camhi vyamhito nāgi na ca maccubhayaddito, na vajjho abhivādeyya vajjhaṃ vā nibhivādaye.  

60. Thần không sợ, tâu chúa rồng linh,
Vì cái chết, thần chẳng hãi kinh,
Nhưng tội nhân không quyền được nói,
Với đao phủ nọ sắp hành hình,
Vị này cũng chẳng nên đòi hỏi,
Kẻ tội phạm kia đối đáp mình!

5754. Kathaṃ nu abhivādeyya abhivādāpayetha ve, yaṃ naro hantumiccheyya taṃ kammaṃ nūpapajjati.   

5755. Evametaṃ yathā brūsi saccaṃ bhāsasi paṇḍita, na vajjho abhivādeyya vajjhaṃ vā nābhivādaye.  

5756. Kathaṃ no abhivādeyya abhivādāpayetha ve, yaṃ naro hantumiccheyya taṃ kammaṃ nūpapajjati.

5757. Asassataṃ sassataṃ nu tavayidaṃ iddhī jutī balaviriyūpapatti, pucchāmi taṃ nāgakaññe tamatthaṃ kathannu te laddhamidaṃ vimānaṃ.  

5758. Adhicca laddhaṃ pariṇāmajaṃ te sayaṃ kataṃ udāhu devehi dinnaṃ, akkhāhi me nāgakaññe tamatthaṃ. yatheva te laddhamidaṃ vimānaṃ.  

5759. Nādhicca laddhaṃ na pariṇāmajaṃ me na sayaṃ kataṃ nāpi devehi dinnaṃ, sakehi kammehi apāpakehi puññehi me laddhamidaṃ vimānaṃ.  

5760. Kiṃ te vataṃ kiṃ pana brahmacariyaṃ kissa suciṇṇassa ayaṃ vipāko, iddhī jutī balaviriyūpapatti idaṃ ca te nāgi mahāvimānaṃ.  

5761. Ahañca kho sāmiko cāpi mayhaṃ saddhā ubho dānapatī ahumhā, opānabhūtaṃ me gharaṃ tadāsi santappitā samaṇabrāhmaṇā ca.

5762. Mālañca gandhañca vilepanañca padīpiyaṃ seyyamupassayañca, acchādanaṃ sayanamathannapānaṃ sakkacca dānāni adamha tattha.

5763. Taṃ me vataṃ taṃ pana brahmacariyaṃ tassa suciṇṇassa ayaṃ vipāko, iddhī jutī balaviriyūpapatti idañca me dhīra mahāvimānaṃ.

5764. Evañca te laddhamidaṃ vimānaṃ jānāsi puññānaṃ phalūpapattiṃ,  tasmā hi dhammaṃ cara appamattā yathā vimānaṃ punamāvasesi. 

5765. Nayidha santi samaṇabrāhmaṇā vā yesannapānāni dademu katte, akkhāhi me pucchito etamatthaṃ yathā vimānaṃ puna māvasema.   

5766. Bhogī hi te santi idhūpapannā puttā ca dārā anujīvino ca, tesu tuvaṃ vacasā kammanā ca asampaduṭṭhā ca bhavāhi niccaṃ.   

5767. Evaṃ tuvaṃ nāgi asampadosaṃ anupālayaṃ vacasā kammanā ca, ṭhatvā idha yāvatāyuṃ vimāne uddhaṃ ito gacchasi devalokaṃ.  

5768. Addhā hi so socati rājaseṭṭho tayā vinā yassa tuvaṃ sajīvo, dukkhūpanītopi tayā samecca vindeyya poso sukhamāturopi.

5769. Addhā sataṃ bhāsasi nāgi dhammaṃ anuttaraṃ atthapadaṃ suciṇṇaṃ, etādisiyāsu hi āpadāsu paññāyate mādisānaṃ viseso.

5770. Akkhāhi no tāyaṃ mudhā nu laddho akkhehi no tāyamajesi jūte, dhammena laddho iti tāyamāha kathaṃ tuvaṃ hatthamimassamāgato.

5771. Yomissaro tattha ahosi rājā tamayamakkhehi ajesi jūte, so maṃ jito rājā imassadāsi dhammena laddhosmi asāhasena.

5772. Yadeva varuṇo nāgo pañhaṃ pucchittha paṇḍitaṃ, tadeva nāgakaññāpi pañhaṃ pucchittha paṇḍitaṃ. 

Rồi Long nữ cũng hỏi bậc Hiền trí như Long vương đã hỏi trước đây và câu trả lời của ngài đã làm nàng hoan hỷ như Long vương vậy.

5773. Yatheva varuṇaṃ nāgaṃ dhīro tosesi pucchito, tatheva nāgakaññampi dhīro tosesi pucchito.

5774. Ubhopi te attamane viditvā mahoragaṃ nāgakaññañca dhīro, acchambhī abhīto alomahaṭṭho iccabravī varuṇaṃ nāgarājaṃ.  

Bậc Hiền trí thấy rằng Long vương cùng Long nữ đều đẹp ý với câu đối đáp của ngài, tâm trí càng kiên cường, chẳng chút sợ hãi liền nói với Long vương:

5775. Mā rodhayi nāga ayāhamasmi yena tava attho idaṃ sarīraṃ, hadayena maṃsena karoti kiccaṃ sayaṃ karissāmi yathāmatinte.  

– Tâu Ðại vương đừng ngại gì, có tiểu thần đây, xin Ðại vương tùy ý sử dụng sinh mạng tiểu thần, thịt da, tim óc tiểu thần ích lợi được việc gì, tiểu thần xin tuân hành, Ðại vương mặc tình định đoạt.

5776. Paññā have hadayaṃ paṇḍitānaṃ te tyamha paññāya mayaṃ sutuṭṭhā, anūnanāmo labhatajja dāraṃ ajjeva taṃ kuruyo pāpayātu.

– Trái tim của các bậc Hiền nhân chính là đại trí, hôm nay vương tộc chúng ta được hoan hỷ chính nhờ đại trí của ngài. Vậy chàng thiếu niên có uy danh toàn hảo kia (tức Punnaka) hãy rước công chúa vu quy ngay hôm nay, cùng đưa ngài trở về xứ Câu-lâu.

5777. Sa puṇṇako attamano udaggo irandantiṃ nāgakaññaṃ labhitvā, haṭṭhena bhāvena patītarūpo iccabravī kurunaṃ kattaseṭṭhaṃ.

Punnaka vô cùng hoan hỷ vì đã chinh phục được Long nữ Irandali, tâm hồn chàng đầy hạnh phúc, chàng thưa với bậc đệ nhất thiện nhân xứ Câu-lâu:

5778. Bhariyāya maṃ tvaṃ akarī samaṅgiṃ, ahañca te vidhura karomi kiccaṃ, imañca te maṇiratanaṃ dadāmi ajjeva taṃ kuruyo pāpayāmi.

61. Ngài đã làm ta được vợ tiên,
Ta mong đền đáp xứng người hiền,
Ta trao ngài ngọc vô song địch,
Và rước ngài về xứ sở liền.

5779. Ajeyyamesā tava hotu metti bhariyāya kaccāna piyāya saddhiṃ, ānandi vitto sumano patīto datvā maṇiṃ mañca nayindapattaṃ.

62. Mong tình đôi lứa chẳng phai tàn,
Do chính lòng hoan hỷ ngập tràn,
Chàng hãy tặng ta viên ngọc quý,
Rồi mang ta trở lại quê hương.

5780. Sa puṇṇako kurūnaṃ kattaseṭṭhaṃ nisīdayī purato āsanasmiṃ, ādāya kattāraṃ anomapaññaṃ, upānayī nagaraṃ indapattaṃ.

Sau đó Punnaka đặt vị đệ nhất thiện nhân xứ Câu-lâu vào chỗ ngồi trước chàng và đưa bậc Ðại trí tối thượng về thành Indapatta.

5781. Mano manussassa yathāpi gacche tatopi saṅkhippataraṃ ahosi, sa puṇṇako kurunaṃ kattaseṭṭhaṃ upānayī nagaraṃ indapattaṃ.

Chàng phi nhanh còn hơn cả tâm tư con người có thể bay bổng; rồi Punnaka đem vị đệ nhất thiện nhân của dân tộc Câu-lâu về thành Indapatta.

5782. Etindapattaṃ nagaraṃ padissati rammāni ca ambavanāni bhāgaso, ahañca bhariyāya samaṅgibhūto tuvañca pattosi sakaṃ niketaṃ.  

63. Hãy ngắm thành đô trước mắt ngài:
Phố phường khả ái, các vườn xoài,
Nay ta được vợ tiên như ý,
Ngài trở về nhà thỏa nguyện thôi!

5783. Sa puṇṇako kurūnaṃ kattaseṭṭhaṃ oropiya dhammasabhāya majjhe, ājaññamāruyha anomavaṇṇo pakkāmi vehāsayamantalikkhe.

Chàng Punnaka dòng dõi cao sang, đặt vị đệ nhất thiện nhân của xứ Câu-lâu giữa đám dân chúng tôn sùng ngài, rồi leo lên thần mã oai phong của chàng bay vút qua không gian.

5784. Taṃ disvā rājā paramappatīto uṭṭhāya bāhāhi palissajitvā, avikampayaṃ dhammasabhāya majjhe nisīdayi pamukhaṃ āsanasmiṃ.

Vua vừa thấy ngài, lòng đầy hoan hỷ, vụt đứng dậy ôm lấy ngài trong tay và không chút ngần ngại đặt ngài lên ngai vàng trước mặt vua ở giữa hội chúng.

5785. Tvaṃ no vinetāsi rathaṃva naddhaṃ nandanti taṃ kuruyo dassanena, akkhāhi me pucchito etamatthaṃ kathaṃ pamokkho ahu māṇavassa.

64. Khanh dẫn chúng ta tựa cỗ xe,
Dân Câu-lâu hỷ lạc tràn trề,
Khi nhìn khanh, trả lời ta rõ,
Sao chàng niên thiếu để khanh về?

5786. Yaṃ māṇavotyābhivadī janinda na so manusso naraviriyaseṭṭha, yadi te suto puṇṇako nāma yakkho rañño kuverassa hi so sajīvo.

65 – 66. Chàng thiếu niên kia, tấu Ðại vương,
Chàng không phải một kẻ tầm thường,
Hỡi anh hùng, có từng nghe nói,
Ðại lực Pun-na-ka, đại thần,
Của Ðại vương Ða-văn thượng giới?

5787. Bhūmindharo varuṇo nāma nāgo brahā sucī vaṇṇabalūpapanno, tassānujaṃ dhītaraṃ kāmayāno irandatī nāma sā nāgakaññā.

Có Long vương nọ đại hùng cường,
Va-ru-na ấy là danh tánh,
Ðầy đủ oai phong với lực thần.
67- 68. Pun-na-ka ái mộ công nương,
Long nữ I-ran-da nõn nường,

5788. Tassā sumajjhāya piyāya hetu patārayittha maraṇāya mayhaṃ, so ceva bhariyāya samaṅgibhūto ahañcanuññāto maṇī ca laddho.

Chàng lập mưu cho thần phải chết,
Chỉ vì kiều nữ chàng yêu thương;
Nay chàng được vợ tiên như ý,
Thần được phép về đến cố hương,
Và bảo ngọc kia thần chiếm được,
Là trân châu xứng Chuyển luân vương.

5789. Rukkho hi mayhaṃ padvāre sujāto paññākkhandho sīlamayassa sākhā, atthe ca dhamme ca ṭhito nipāko gavapphalo hatthigavassachanno.

Trước hoàng môn có một cây đại thọ, thân nó là trí tuệ, cành lá là công đức, cây trái phát triển chín muồi theo lẽ tự nhiên, trái của nó là năm sản phẩm của con bò cái, cây được voi ngựa bao phủ chung quanh.

5790. Naccagītaturiyābhinādite ucchijjasenaṃ puriso ahāsi, so no ayaṃ āgato sanniketaṃ rukkhassimassāpacitiṃ karotha.

Nhưng trong lúc mọi người đang đàn ca múa hát, một người lạ mặt đến chặt cây tận gốc rồi mang đi, sau đó cây lại trở về cung điện này của ta, các ngươi hãy đến chiêm bái cây ấy.

5791. Ye keci vittā mama paccayena sabbeva te pātukarontu ajja, tibbāni katvāna upāyanāni rukkhassimassāpacitiṃ karotha.

Các ngươi hãy biểu lộ lòng hân hoan của các ngươi vì trẫm bằng hành động, vậy hãy đem thật nhiều tặng vật đến chiêm bái cây này.

5792. Ye keci baddhā mama atthi raṭṭhe sabbeva te bandhanā mocayantu, yathevayaṃ bandhanasmā pamutto imeva te muccare bandhanasmā.

Bất cứ tù nhân trong quốc độ của trẫm đều được thả ra hết, cũng như cây này được giải thoát khỏi cảnh giam cầm, mọi người đều được trả tự do.

5793. Unnaṅgalā māsamimaṃ karontu maṃsodanaṃ brāhmaṇā bhakkhayantu, amajjapā majjaraho pipantu puṇṇāhi thālāhi palissutāhi.

Dân chúng hãy vui chơi hội hè suốt tháng này, cất hết cày bừa đi, hãy cung phụng các Bà-la-môn đủ thịt và cơm gạo, hãy để các vị ấy uống rượu ở chỗ riêng cho thỏa thích, dù quí vị nào có kiêng rượu hẳn đi nữa cũng cứ rót thật tràn trề.

5794. Mahāpathaṃ nicca samavhayantu tibbañca rakkhaṃ vidahantu raṭṭhe, yathaññamaññaṃ na viheṭhayeyyuṃ rukkhassimassāpacitiṃ karotha.

Hãy mời luôn đám thảo khấu và canh phòng quốc độ thật cẩn mật để không ai làm hại láng giềng mình được. Hãy đến chiêm bái cây này.

5795. Orodhā ca kumārā ca vesiyānā ca brāhmaṇā, bahuṃ annañca pānañca paṇḍitassābhihārayuṃ.

các cung phi, vương tử, vệ xá, Bà-la-môn liền đem cho bậc Hiền trí thật nhiều thức ăn uống.

5796. Hatthāruhā anīkaṭṭhā rathikā pattikārakā, bahuṃ annañca pānañca paṇḍitassābhihārayuṃ.

Các tượng sư, vệ sĩ, kỵ mã, bộ binh liền đem thức ăn uống cho ngài.

5797. Samāgatā jānapadā negamā ca samāgatā, bahuṃ annañca pānañca paṇḍitassābhihārayuṃ.

Dân chúng khắp thành thị, thôn quê tụ tập lại thành từng đám đem tặng thật nhiều thức ăn uống.

5798. Bahujjano pasannosi disvā paṇḍitamāgate, paṇḍitamhi anuppatte celukkhepo avattathā ”ti.  

Ðám đông hoan hỷ, chiêm ngưỡng bậc Hiền trí sau khi ngài xuất hiện. Khi ngài mới đến, họ vẫy khăn tay và reo vang khúc khải hoàn.

Câu chuyện 545

Vidhurapaṇḍitajātakaṃ aṭṭhamaṃ.

Bổn Sanh Bậc Sáng Suốt Vidhura là thứ tám. [545]

Bài viết trích từ cuốn “Kinh Điển Tam Tạng – Tiểu Bộ Bổn Sanh III“, Tỳ-khưu Indacanda Dịch Việt

* Link tải sách ebook: Kinh Điển Tam Tạng – Tiểu Bộ Bổn Sanh III
* Link thư mục ebook: Sách Tỳ-khưu Indacanda
* Link tải app mobile: Ứng Dụng Phật Giáo Theravāda 

* Thuộc BỔN SANH III - TIỂU BỘ - TẠNG KINH - TAM TẠNG TIPITAKA | Dịch Việt: Tỳ Khưu Indacanda | Nguồn Tamtangpaliviet.net

Dhamma Paññā

BQT trang Theravāda cố gắng sưu tầm thông tin tài liệu Dhamma trợ duyên quý độc giả tìm hiểu về Dhamma - Giáo Pháp Bậc Giác Ngộ thuyết giảng suốt 45 năm sau khi Ngài chứng đắc trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Chánh Giác vào đêm Rằm tháng 4, tìm hiểu thêm phương pháp thực hành thiền Anapana, thiền Vipassana qua các tài liệu, bài giảng, pháp thoại từ các Thiền Sư, các Bậc Trưởng Lão, Bậc Thiện Trí.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Từ điển
Youtube
Fanpage
Tải app