KINH NGHIỆM NỘI QUÁN PHẦN I 

Tối Thứ 1: Khai Mạc Và Bắt Đầu Hướng Dẫn

Theo truyền thống, khi bắt đầu khóa thiền, ta qui y Tam Bảo Phật, Pháp, Tăng. Qui y Phật là thừa nhận hạt giống chứng ngộ trong ta, khả năng giải thoát. Nó cũng có nghĩa là qui y những phẩm hạnh của Đức Bổn Sư biểu hiện, tính chất vô úy, trí tuệ, từ bi. Qui y Pháp là qui y vào PHÁP theo tính tự nhiên, bản chất mọi hiện tượng sự kiện như chúng đang là, thừa nhận chơn lý tự nhiên trong vạn hữu, và từ đó, mọi vật sẽ phơi bày tính chất đặc thù của chúng trong ta. Qui y Tăng là gánh vác một phần trách nhiệm hổ trợ Tăng Đoàn, và mỗi chúng ta tương tức lẫn nhau để cùng tiến đến chứng ngộ giải thoát.

Một nền tãng không thể thiếu trong thiền là tuân thủ những giới luật cơ bản. Đó là cách giữ gìn sự trong sạch của thân, khẩu, ý. Những giới ta hành trì là: không sát sanh, nghĩa là không cố ý sát hại sanh mạng kể cả giết một con muổi hay con kiến; không trộm cắp, nghĩa là không lấy bất cứ vật gì nếu chưa được cho phép; không tà hạnh, ý nghĩa trong khóa thiền nầy là giữ hạnh sống độc thân; không nói dối, là không nói sai lệch, thô cộc; không sử dụng chất độc, một lần nửa, ý nghĩa nó trong khóa thiền nầy là không uống rượu và sử dụng các chất độc dược. Gìn giữ ngủ giới sẽ cung ứng một cơ bản vững chắt trong thiền định và từ đó sanh trưởng trí tuệ Minh sát.

Chúng ta đang được hưởng một phần, có được cơ hội quí báo họp mặt nhau tại đây, để nhìn lại chúng ta trong khung cảnh thanh tịnh biệt lập nầy. Thật là quí để có trọn một tháng dành cho tu tập, để tìm lại chính ta, ta là ai. Cần nên có một vài đức tính thiết yếu để hổ trợ và gìn giữ sự dụng công trong quân bình. Đức tính đầu tiên là nhẩn nại: có những lúc hình như ta thấy một tháng dài vô tận và mọi người đều hoang mang, đặc biệt là phải thức giấc sớm với khí hậu giá rét 4:30 sáng. Trong khóa thiền sẽ có nhiều thăng trầm. Có những lúc ta hành tập thật tốt và đầy quán niệm, nhưng cũng có lúc tràn ngập những buồn chán, đau đớn thân xác, biết bao là trạo cử, nghi ngờ. Nhẩn nại để vượt qua. Những kinh nghiệm nầy giúp tâm được quân bình. Có lần một người hỏi Trunpa Rinpoche từ ngữ “đức hạnh” nằm ở đâu trong truyền thống Phật giáo. Ngài trả lời đức hạnh là sự kiên nhẩn. Nếu ta có một cái tâm nhẩn nại, mọi việc đều được rộng mở theo lối qui định tự nhiên của chúng. Nhẩn nại cũng có nghĩa là trụ tâm trong trạng thái quân bình bất kể những gì đang xãy ra, an trụ trong nhẹ nhàng, thư giản, và tỉnh giác.

Ngài Milarepa, vị Thánh Tăng Tây Tạng, luôn khuyên nhủ các đệ tử nên “cấp bách nhưng từ từ.” Cấp bách đây là về mặc lúc nào cũng luôn luôn và dụng công đều đặng, nhưng phải hành với thằng bằng và trầm tỉnh. Bền chí, đầy nhiệt năng với thư giản và quân bình.

Một thái độ hổ trợ để tiến sâu vào thiền là sự im lặng. Ta thường không nhận thức rỏ ràng những gì xãy ra trong tâm tư do bởi nói chuyện làm xao lãng sự chú tâm và làm tan biến đi năng lượng tu tập. Khi giảm thiểu nói chuyện, là ta đang duy trì năng lượng và dùng nó hết vào sự phát triển ý thức và chánh niệm. Im lặng là hành thiền, chính nó cũng nên được xử lý trong nhẹ nhàng và thoải mái. Đây không có nghĩa là nói chuyện khi bạn muốn nói, nhưng thư giản ra để tiến sâu vào im lặng, ý thức được nó rỏ ràng qua một ngày hành tập. Bằng cách giữ im lặng, toàn phạm trù tâm thức và hoạt động thân sẽ trở nên rỏ ràng cực độ, không nói chuyện tạo khả năng làm tâm tỉnh lặng sâu sắc hơn.

Hội tụ bạn hữu và gia đình thăm viếng thì không được khuyến khích. Cố gắng tôi luyện cảm giác độc thân (một mình). Để chuẩn bị việc nầy, rất hữu ích cho ta đình chỉ những định kiến sai lệch về bản thân mình, về mối tương giao, về người khác. Sử dụng thời gian nầy cùng triệt, để chứng nghiệm tự thân một cách sâu sắc.

Mỗi chúng ta đều sẽ bỏ thân mạng nầy ra đi một mình. Cho nên thật cần thiết để trở về làm quen với lối sống cô đơn. Tâm sẽ trở nên vững mạnh và an lạc trong sự thấu hiểu đó; nó đem đến sự hài hòa, hợp nhất với người khác. Khi ta hiểu thấu chính ta, tình cảm giửa người và người trở nên thuận lợi và nhiều ý nghĩa.

Không nên pha trộn phương pháp hành tập của các trường phái khác, đây cũng là một hổ trợ lớn. Nhiều người trong đây đã học nhiều cách hành thiền khác nhau. Trong thời gian nầy, rất tốt để ta tập trung phát triển chỉ một phương pháp Minh sát tuệ. Qua sự tôi luyện chánh niệm tuệ Minh sát sẽ phát triển. Tập trung mọi cố gắng trong tháng nầy, tu dưởng, tích lũy từng giây phút chánh niệm, là đang đi sâu vào hành tập. Nếu mọi cố gắng đều hướng về một mục tiêu, tâm sẽ trở nên vững chắc và soi chiếu xuyên thấu.

Dừng lại, chậm lại là một giá trị to lớn. Đâu cần phải gấp gáp, không nơi để đến, chẵng việc gì phải làm. Chỉ cần ổn định, lắng lòng lại vào trong hiện tại, vậy là đủ rồi. Mọi hoạt động trong ngày cần phải nên chánh niệm, thận trọng lưu ý từng chi tiết. Ta tiến sâu vào thiền qua sự liên tục chánh niệm.

Ta bắt đầu tập tọa thiền với một đối tượng rất đơn thuần để quán sát: chánh niệm hơi thở. Chọn tư thế ngồi nào thuận lợi nhất cho bạn, giữ lưng tương đối thẳng mà không bị cứng hay gồng. Nếu bạn trong tư thế gò bó quá, hay nghiêng về phía trước nhiều, thân sẽ mau mỏi mệt. Bạn có thể ngồi trên ghế nếu nó là giải pháp cuối cùng. Quan trọng là đừng chuyển động nhiều. Mắt có thể nhắm hoặc mở 3/4 nếu đã được huấn luyện. Mở mắt nhắm mắt chỉ là một cách trụ thị nhản ở một chổ rồi quên nó đi. Nói chung là hình như nó dể dàng hơn nếu nhắm mắt nhưng với thoải mái. Một lần nửa, đừng đặt nặng vấn đề nhắm hay mở mắt.

Chánh niệm hơi thở có thể thực tập trong hai cách. Khi bạn hít vào tự nhiên bụng sẽ phồng ra, và thở ra, bụng xẹp xuống. Chú tâm nơi phồng xẹp, không quán chiếu, tưởng tượng bất cứ việc gì. Chỉ nhận biết cảm giác chuyển động của bụng. Đừng kiểm soát hay gượng ép hơi thở, chỉ chú tâm vào sự di chuyển phồng xẹp của bụng.

Phương tiện thay đổi khác là ý thức được hơi thở ra vào nơi mủi, giữ sự chú tâm những vùng chung quanh vành mủi. Giữ sự chú tâm trên hơi thở như người gác cổng quan sát khách bộ hành đi ngang qua lại. Đừng theo hơi thở đến tận cùng; mà cũng đừng kiểm soát hay gò bó hơi thở. Chỉ đơn giản ý thức hơi thở ra vào đi ngang qua vành lổ mủi. Nó rất lợi ích khi mới tập thiền là đặt tâm ghi chú vào một trong hai thế, “phồng, xẹp” hay “ra, vào.” Cách nầy hổ trợ cho tâm an trụ một điểm trên đối tượng.

Vài phút đầu tiên, xem coi đối tượng nào xuất hiện rỏ ràng hơn, phồng xẹp hay ra vào. Rồi chọn một nơi để tập trung tâm và trụ ở đó, đừng thay đổi đối tượng. Có những lúc đối tượng trở nên lu mờ, đừng suy nghĩ là phải thay đổi đối tượng chánh niệm để cho được dể dàng hơn. Khi bạn quyết định chọn nơi nào sẽ là điểm phát triển tu dưởng sự chú tâm, giữ nguyên như vậy và cố gắng bám sát vào đối tượng mặc kệ những thay đổi bên ngoài. Thỉng thoảng nó rỏ ràng, và có lúc không rỏ ràng, đôi khi quán chiếu thật sâu, và rồi cũng cạn cợt, lắm lúc chú niệm thì dài, có khi lại mất đi chánh niệm liên tục. Nên nhớ rằng, đây không phải là thể dục hơi thở; nó là sự bắt đầu thực tập trưởng dưởng chánh niệm.

Ta chú tâm lúc đi kinh hành vào động tác chân, giơ lên, đưa tới, đạp xuống. Nó rất là hữu ích để ta chánh niệm động tác, tiến trình, của một bước chân, một cách hoàn toàn trước khi bắt đầu bước kế tiếp. “Giơ lên, đưa tới, đạp xuống, giơ lên, đưa tới, đạp xuống.” Rất là đơn giản. Một lần nửa, đây không phải là động tác thể dục thể thao. Đây là sự hành tập trong chánh niệm. Sử dụng sự di động để phát triển tỉnh giác một cách thận trọng. Xuyên qua quá trình diển biến trong một ngày, bạn có thể thấy rất nhiều thay đổi. Đôi lúc bạn cảm thấy muốn đi lẹ hơn, có khi rất chậm. Bạn có thể lấy từng bước chân làm thành một đơn vị, “từng bước, từng bước.” Hay bạn lúc bắt đầu thì đi lẹ và, cũng trong lúc kinh hành đó, chậm lại từ từ cho đến khi bạn chia chẻ được rỏ ràng ba phần, giơ lên, đưa tới, đạp xuống. Hãy thử đi. Sự tu dưởng chính đây là chánh niệm, ý thức được những gì đang xãy ra.

Trong lúc đi, hai tay nên giữ yên một vị trí, có thể là nắm lại sau lưng, buông thỏng hai bên hông, hay nắm lại để phía trước. Tốt hơn là nên nhìn về phía trước một chút, không phải ở chân, để tránh đi bị lôi cuốn vào khái niệm của “chân” nổi lên từ sự tiếp xúc giửa mắt và chân. Mọi sự chú tâm nên đặt để trên nhận thức được sự di chuyển, cảm xúc được tiến trình giơ lên, đưa tới, đạp xuống.

Đây là thời khóa biểu trọn ngày để bạn có ý niệm về nó:

4:30 thức dậy
5:00-6:30 tọa thiền và kinh hành xen kẻ
6:30-7:30 ăn sáng
7:30-8:00 kinh hành
8:00-9:00 tọa thiền
9:00-9:45 kinh hành
9:45-10:45 tọa thiền
10:45-11:30 kinh hành
11:30-1:15 ăn trưa và nghĩ ngơi
1:15-2:00 tọa thiền
2:00-2:45 kinh hành
2:45-3:45 tọa thiền
3:45-5:00 tọa thiền và kinh hành xen kẻ
5:00-5:30 uống trà
5:30-6:00 kinh hành
6:00-7:00 tọa thiền
7:00-8:00 pháp thoại
8:00-8:45 kinh hành
8:45-9:45 tọa thiền
9:45-10:00 uống trà
10:00 có thể tập thêm hoặc đi ngủ

Thời khóa biểu sẽ được niêm yết. Trong vài ngày đầu, cố gắng theo sát chương trình càng nhiều càng tốt. Như lúc bạn cảm thấy dể chịu trải qua nguyên ngày trầm tư, trong cố gắng chánh niệm liên tục, bạn sẽ khám phá ra nhịp độ của bạn. Kinh hành và tọa thiền càng liên tục càng tốt. Ăn cơm, như tất cả những hoạt động khác, với chánh niệm và ý thức. Sau một thời gian bạn có thể thích kinh hành nhiều hơn, một giờ, một giờ rưởi, rồi tọa thiền. Vài người thích ngồi lâu, hai, ba giờ một lần; có thể vài người sẽ thức khuya hành trì thêm. Khi tôi bắt đầu học thiền bên Ấn Độ, tôi hành thiền trong những giờ rất khuya: khoảng thời gian 12 giờ đêm đến 3 giờ sáng tôi cảm thấy rất an lành, yên lặng, rất tốt cho hành tập. Khi thiền tập vững mạnh ra, tự nhiên ta ngủ ít đi. Đi ngủ chỉ khi nào bạn quá mệt, không phải theo thói quen ở một giờ nhất định. Có thể rằng khi thiền tập được phát triển, bạn sẽ không cảm thấy mệt mỏi và có thể theo sát cuộc hành tập ngày và đêm. Cống gắng nhận ra mức độ dể chịu, vừa phải cho bạn, gia tăng sự cố gắng mà không bị áp lực thúc đẩy.

Thánh Francis de Sales đã viết,

Nhẩn nại với mọi người, nhưng hơn hết, là phải với chính mình. Ý tôi là, đừng bị nản lòng do vì những lổi lầm của bạn, nhưng lúc nào cũng tự đứng lên với niềm khích lệ mới. Tôi rất vui mừng mỗi ngày là một ngày mới của bạn. Không có ý nghĩa thành công nào tốt đẹp hơn là luôn luôn khởi tác lại từ đầu của một đời sống phạm hạnh, và đừng bao giờ nghĩ rằng ta đã làm đủ. Làm thế nào để ta có đủ nhẩn nại để đương đầu với lổi lầm của người hàng xóm nếu ta không nhẩn nại với chính ta? Ai mà còn đang bực dọc với chính những thất bại của mình sẽ không thay đổi được cục diện những người chung quanh. Tất cả những sửa đổi có khuynh hướng mang lợi ích cho mọi người đều đến từ một cái tâm tỉnh lặng, an bình.

Tối Thứ 2: Bát Chánh Đạo

Tất cả chúng ta đã bắt đầu một cuộc hành trình, cuộc hành trình đi vào tâm linh, khám phá và khảo sát coi ta là ai, là gì. Bước đầu tiên lúc nào cũng khó, và những ngày đầu thực tập thường có trạng thái trạo cử, buồn ngủ, chán ngán, lười mỏi, hồ nghi và có thể hối hận là tại sao mình phải dấn thân vào làm những việc như thế. Thật là gian nan cho mỗi hành giả ở giai đoạn tiên phong. Spinoza, ở đoạn cuối quan trọng trong tác phẩm tâm lý học của ông, đả nói, “Mọi việc cao thượng đều phải khó khăn do bởi quí hiếm. ” Ta bắt tay vào công cuộc tìm hiểu tâm linh, gánh vác một trách nhiệm vĩ đại, vậy ta nên nhẹ nhàng, nhẫn nại để vượt qua bất cứ những thử thách, khó khăn ban đầu.

Một chuyện ngụ ngôn rất hay để diễn tả cuộc hành trình nầy là cuốn Mount Analogue. Câu chuyện nói về một nhóm người đi tìm một quả núi. Chân núi là cỏi ta bà nầy trong khi đỉnh núi tiêu biểu cho sự chứng ngộ tâm linh cao tột. Khi khởi sự, người leo núi phải đối diện với những chướng ngại lớn: trong hoàn cảnh bình thường, quả núi không thể nhìn ra một cách dể dàng và được coi là gian nan chỉ để xác định được vị trí quả núi. Sau khi ráng sức, họ tìm ra và đã có thể đến được chân núi . Phần còn lại quyển sách nói về những chuẩn bị, khó khăn, động năng và hứng thú khi khởi hành đi lên đỉnh núi.

Chúng ta cũng đang trên lộ trình giống như vậy, trèo lên đỉnh của trực tâm. Ta đã khám phá ra tung tích của núi: thực chất rằng chân lý, Pháp, đều nằm cả trong ta chớ không ngoài ta, và ta bắt đầu ngay từ nơi đó.

Con đường lên đỉnh, đường đến giải thoát, đã được vạch ra rất cặn kẽ bởi các bật Tiền-nhân đi trước. Một dẫn giải rỏ ràng nhất được tìm ra trong giáo lý của Đức Phật là Bát Chánh Đạo. Đây là bản đồ, kim chỉ nam đưa đến chứng ngộ niết bàn.

Bước đầu tiên đi lên đỉnh trí tuệ là Chánh Kiến. Thực chất, đây là bước đầu và cũng là bước cuối. Ta bắt đầu cuộc hành trình tại điểm xuất phát với một vài sự hiểu biết, và sự hiểu biết đó được mang theo đến lúc hoàn tất, viên mãn ở tại đỉnh núi khi ta sẽ xuyên thấu được các tần lớp sâu thẳm nhất của tâm. Ban đầu, Chánh Kiến bao hàm các luật thiên nhiên, hành trị đời sống thường nhựt của chúng ta. Một trong những chánh kiến quan trọng đó là Nghiệp, luật của nhân và quả. Mỗi hành động đều đem lại một kết quả không sai. Không có gì xãy ra đến ta một cách tự nhiên. Bất luận là gì ta làm ra do bởi động lực của tham, sân, si, đau khổ sẽ trở lại với ta. Khi hành động được tác động do từ bi, thương yêu và trí tuệ, kết quả sẽ là hạnh phúc và an lành. Nếu ta biết hợp nhất sự hiểu biết của nghiệp lực vào đời sống, một cách ý thức, ta có thể bắt đầu đào luyện và phát triển lành mạnh phẩm chất của tâm.

Đức Bổn Sư thường nhấn mạnh quyền năng và sức mạnh của bố thí. Cho ra là sự biểu lộ hành động diệt tham trong tâm. Trong con đường tu tập tâm linh trọn vẹn nầy đòi hỏi sự xả bỏ, không nắm giữ, không bị ràng buột, bố thí là thể hiện sự không dính mắc.

Phần khác của Chánh Kiến là hiểu biết về mối liên hệ đặc biệt, cộng nghiệp ta có với cha mẹ, bổn phận và trách nhiệm đối với đấng sinh thành. Cha mẹ chăm sóc ta trong lúc ta chưa đủ sức chăm sóc bản thân mình, vì họ quan tâm đến ta trong khi ta chưa tự lo liệu được và bây giờ ta có cơ hội hành tập Pháp để đền ơn. Đức Phật nói kể cả cỏng song thân trên hai vai đi cho hết một kiếp người, ta vẩn không bao giờ trả đủ công ơn cha mẹ. Chỉ có một con đường trả ơn thù thắng nhất là giúp đỡ cha mẹ hiểu biết giáo pháp, trong chân lý, trong Chánh Kiến. Nói chung ta mất rất nhiều thời gian và năng lực để không còn luyến ái tâm lý với cha mẹ, chắt chắn rằng nó có giá trị riêng, nhưng trong phần giải thoát đó, ta nên nhận ra trách nhiệm của mình đối với đấng sinh thành.

Chánh kiến cũng bao gồm sự hiểu biết sâu sắc về bản chất tự nhiên của con người. Trong những khóa thiền tập, ta trở nên hiểu biết rỏ ràng hơn về vô thường. Tất cả những yếu tố tâm và thân hiện lên từng khoảnh khắc rồi qua đi, trồi lên và biến mất một cách liên tục. Hơi thở đến rồi đi, tư tưởng nổi lên rồi tan biến, cảm giác trổi dậy rồi lại chìm xuống. Tất cả mọi hiện tượng luôn trong tình trạng thay đổi. Không có gì bảo đảm tồn tại trong dòng biến chuyển vô thường nầy. Sự nhìn thấu một cách sâu sắc vào bản chất vô ngã của tất cả nguyên tố, phân tử, bắt đầu cho ta một cái nhìn cấp tiến trong đời sống và thế giới nầy. Tâm dừng sự nắm bắt và dính mắc khi tính chất tạm thời, ngắn ngủi, nhỏ nhặt của mọi thứ đều được hiểu ra, và khi ta trải qua tiến trình của tâm và thân mà không là gánh nặng trên thân. Đây đúng Chánh Kiến trong thiền tập qua sự quán sát xuyên thấu cẩn thận.

Bước thứ hai Bát Chánh Đạo là Chánh Tư Duy. Có nghĩa là tư tưởng được giải thoát ra khỏi ái dục, ác ý, hung hiểm. Hể khi tâm còn bị ái dục lôi kéo, nó sẽ đi tìm đối tượng bên ngoài để thỏa mản, đối tượng bên ngoài, do bản chất luôn luôn vô thường, cho nên không thể đưa đến mản nguyện cuối cùng. Kinh nghiệm khoái lạc chỉ trong giây phút, nhưng tai hại sau đó là sự ham muốn khoái cảm đó cứ lập lại hoài. Ái dục trổi lên không dừng nghĩ làm cho tâm chao đảo và rối rắm. Tâm tưởng giải thoát không có nghĩa là đè nén chúng và tản lờ như chúng không có mặt. Nếu dục vọng bị đè nén, nó sẽ hiển lộ với hình thức, trạng thái khác thôi. Nếu ta không khéo nhận dạng chúng, ta sẽ bị đồng hóa với mỗi dục vọng khi chúng nổi lên và có xu hướng hành tác theo dục vọng đó. Chánh tư duy nghĩa là cảnh giác mỗi cảm giác dục vọng và xã bỏ chúng. Càng xã bỏ, tâm càng trở nên nhẹ nhàn. Lúc đó, tâm không còn bị xáo động, căng thẳng, và ta giải thoát bản thân từ điều kiện tâm thức đó, từ sự ràng buộc của ái dục.

Tự do từ ác tâm nghĩa là tự do từ sân hận. Sân hận là tâm lửa, và khi nó bùng cháy nó sẽ tạo đau khổ cho chúng sanh khác. Rất có ích để nhận dạng sân hận và buông xã chúng. Tâm trở nên nhẹ nhàn, dể chịu, lòng từ tự nhiên xuất phát ra từ đó.

Tâm không hung hiểm có nghĩa là tâm bi, cảm nhận được sự thống khổ của kẻ khác và muốn họ thoát khổ. Ta nên phát triển ý tưởng tốt đẹp nầy, đây là hình thức phong tỏa được hung ác đến chúng sanh khác.

Bước kế tiếp lên đỉnh có liên quan đến mối tương giao giữa ta và thế giới nầy; mối liên hệ thế nào giữa người với người và môi trường chung quanh. Đó là một thời hiệu để đặt ta hội nhập cùng môi trường, để tạo lập một sinh thái thích đáng nhất cho tâm thức để chúng ta không có xung đột với người khác hay đối nghịch với môi trường chung quanh. Quan điểm thứ nhất về sự tương giao với thế giới là Chánh Ngữ. Nghĩa là không nói dối, bóng gió, đâm thọc nặng nề; thay vì vậy, ta nói lời chân thành, hỗ trợ, tạo dựng sự thức động của hòa bình và thân ái.

Có câu chuyện được kể Đức Phật trở về thăm gia đình sau khi đã chứng ngộ. Rất nhiều thân nhân, bạn bè , được khích lệ bởi sự có mặt của Ngài, do tình thương, lòng từ, và trí tuệ, họ đã gia nhập Tăng Đoàn. Có một thời pháp Đức Phật nói chuyện rất hay gọi là khuyên răng La Hầu La, Ngài đã nói rằng dầu bất cứ hoàn cảnh nào, dẩu là lợi ích cho bản thân hay người khác, cũng không nên nói dối. Thệ nguyện nói thành thật rất là quan trọng. Nó tạo nên mối liên hệ dể dàng và không rắc rối. Thành thật trong lời nói là phản ảnh được thành thật trong chính ta. Có nhiều sự việc trong thân và tâm, căng thẵng nhiều mặt, bất như ý, sự việc ta không muốn nhìn đến, sự việc ta tự dối chính ta. Thành thật trong lời nói là cơ bản cho sự thành thật trong tâm thức, đây là lúc ta giải bày mọi việc. Từ đó ta bắt đầu nhìn rỏ, đương đầu với bản chất loạn năng của tâm.

Bước thứ tư lên núi là Chánh Nghiệp. Có nghĩa là không giết hại, giảm thiểu sự đau khổ cho chúng sanh khác; không trộm cướp, là không lấy bất cứ vật gì nếu không được cho; và không tà dâm, trong bối cảnh nầy, ta có thể hiểu là không tạo đau khổ cho người từ sự tham ái của ta để thỏa mản khoái lạc.

Thông thường, trong hiện tại, ta không nhận ra tầm ảnh hưởng xa của hành động ta. Có câu chuyện trong Mount Analogue được minh họa như vầy.

Có luật cho người leo núi rằng ở một điểm cao nhất định nào đó, không ai được quyền giết hại bất cứ sinh vật gì. Người leo núi phải mang theo thực phẩm. Ngày nọ có người vượt qua điểm đó và bị kẹt trong một trận bảo tuyết kinh hồn. Anh sống ba ngày trong một nơi ẩn trú xây dựng tạm với thức ăn đã cạn và độ lạnh hầu như đóng băng. Ngày thứ ba bảo tuyết chấm dứt. Anh thấy một con chuột già bò ra từ hang nhỏ và anh nghĩ chắc không thiệt hại gì để thịt chú chuột đó làm thức ăn cho sự sống còn của mình trở xuống núi. Làm thế nào đó mà anh xoay sở tìm được một cục đá và giết được chú chuột già đáng thương kia. Anh xuống được núi, và quên bẳng đi chuyện chú chuột. Một thời gian sau anh được triệu hồi lên ban Hội-đồng, những người có trách nhiệm hướng dẫn đường lên xuống núi. Anh bị buột tội đã giết chú chuột đó mặc dù anh đã quên phức việc đó rồi. Kết quả là đã có nhiều hậu quả tai hại xãy ra sau đó. Chú chuột già cỗi, không thể bắt những côn trùng nhanh, mạnh, cho nên chỉ ăn những côn trùng bệnh hoạn thôi. Và khi chuột mất rồi, không còn ai ăn đi số lượng côn trùng bệnh, lượng sinh sản côn trùng bệnh tăng mau. Bệnh lan nhanh đến côn trùng lành mạnh và giết hành loạt. Côn trùng mạnh là nhân tố cho thụ phấn cho cây cối và làm mầu mở cây xanh trên sườn núi. Khi côn trùng chết hết, không có sự phát triển, cây xanh bắt đầu chết dần mòn. Cây chết, không có rể cây để giử đất, và đất bắt đầu bị lở. Cuối cùng trận chài đất lớn xãy ra giết hại rất nhiều người và tắt nghẻn đường lên xuống trong thời gian dài. Mọi chuyện xãy ra cũng chỉ vì giết đi một con chuột già.

Bởi chúng ta không thể thấy hậu quả xa trong mỗi hành động ta tạo nên, cho nên ta cần phải chăm lo, không làm xáo trộn môi trường chung quanh mà cần phải tạo ra khung cảnh hòa bình, yên lành với thương yêu và từ mẫn đối với thiên nhiên.

Bước kế trong Bát chánh Đạo có quan hệ giữa chúng ta và thế giới là Chánh Mạng. Nghĩa là làm những công việc để bảo tồn và duy trì mạng sống chúng ta mà không làm hại đến chúng sanh khác; không làm những nghề giết hại, trộm cắp, tà hạnh. Có một bản liệt kê truyền thống những nghề không nên làm như buôn bán vủ khí hay chất độc, săn bắn hay chày lưới, những nghề gây khổ, tổn hại sanh mạng chúng sanh khác. Phật pháp thì không chỉ để ngồi đó. Tọa thiền là công cụ thù thắng để hiểu trạch ra Pháp, nhưng trí tuệ và hiểu biết phải được hội nhập sử dụng cùng nhau trong cuộc sống. Chánh nghiệp là phần quan trọng trong sự hội nhập: “Đi giống như người Mỷ da đỏ trong một tư thế nghiêm trang. Tạo nên một đời sống có nghệ thuật.” Làm những gì ta làm trong một tư thế nghiêm trang. Làm những gì ta làm trong sự tỉnh thức.

Bước kế tiếp trên đường đạo tập trung chủ yếu vào hành thiền. Đầu tiên trong những quan trọng là Chánh Tin Tấn. Nếu ta không cố gắng, không có gì thành tựu cả. Trong Duy Thức Luận, tâm lý học Phật Giáo đã có nói, tin tấn là cội rể của tất cả thành tựu, nền tãng của chứng ngộ. Nếu ta muốn lên được đỉnh núi mà chỉ ở chân núi suy nghĩ về nó, không có gì sẽ xãy ra. Qua sự cố gắng, ta thật sự bắt tay vào việc leo núi, từng bước một trèo lên, ta sẽ đến được đỉnh. Ramana Maharshi một bật thánh lổi lạc thời hiện đại Ấn Độ, đã viết, “không thành công nếu không cố gắng. Kiểm soát tâm không phải sinh ra là được. Những ai thành tựu đều phải trải qua nhẫn nại và ý chí.” Nhưng tin tấn phải được quân bình. Căng thẳng và lo âu là chướng ngại lớn. Năng lực phải được bình quân ra với tâm yên tĩnh. Giống như căn dây đàn. Nếu dây quá căng hay chùng, tiếng kêu sẽ không được hoàn chỉnh. Trong hành tập cũng vậy, ta phải bền bỉ và nhẫn nại nhưng với thái độ thư giản, và quân bình, cố gắng mà không thúc ép. Có nhiều cái cần phải khám phá trong ta, nhiều tần lớp của tâm để hiểu. Do sự cố gắng, nó sẽ mở ra con đường. Không ai hành dùm ta trong phần nầy; Không ai có thể chứng ngộ dùm cho người khác được. Sự chứng ngộ của Đức Phật chỉ giải quyết vấn đề của Ngài, nó không giải quyết cho ai khác….. chỉ là hướng dẫn lại ta con đường Ngài đã đi qua. Mỗi chúng ta phải bước trên con đường đó.

Chánh niệm là bước thứ bảy trong bát chánh đạo. Có nghĩa là biết những gì xãy ra trong hiện tại. Nghĩa là biết ra dòng lưu chuyển của mọi vật: khi bước, ta biết được những tác động của thân; trong quan sát hơi thở, ta biết cảm giác ra vào của hơi thở, phồng xẹp của bụng; nhận thức được tư tưởng, cảm giác đang nổi dậy. Như một vị Thiền sư đã diển tả, “khi đi ta chỉ đi, khi chạy, ta chỉ chạy. Điều trên hết, đừng lưỡng lự.” Bất cứ một đối tượng nào, ta chỉ biết, tĩnh giác với nó mà không dính mắc cùng tham, không lên án với sân, không quên đối tượng với si mê; chỉ thuần quan sát dòng lưu chuyển, quan sát tiến trình. Khi chánh niệm được đào luyện, nó trở nên nhịp nhàn và cả ngày như là một sự ca múa hân hoan. Chánh niệm đem lại sự yên tĩnh. Tâm vô tư và thăng bằng, luôn giữ trong tư thế trong sáng tập trung, cùng thái độ ngồi thư giản nhàn nhã, như đang ngồi xem một bộ phim.

Bước cuối cùng tiến đến đỉnh là Chánh Định. Tâm trụ trên một điểm, khả năng lúc nào cũng chánh niệm trên một đối tượng. Ngày đầu tiên của cuộc hành trình có thể rất khó khăn do bởi Định chưa được phát triển tốt. Để leo núi, bạn cần phải có một thể lực ấn định nào đó. Nếu bạn chưa đủ mạnh, những bước đầu tiên sẽ mệt mỏi và khó chịu. Nhưng khi thân thể được tráng kiện hơn, leo núi cũng sẽ dể dàng.

Nếu ta đặt một ấm nước trên lò và cứ vài phút lại tắt lò thì đến khi nào nước mới sôi. Nhưng nếu để luôn, nước sẽ sôi nhanh.

Những khóa thiền tập là cơ hội tốt để phát triển sự hợp nhất giữa Chánh Niệm và Định. Bằng cách sống có chánh niệm luôn luôn. Mỗi khoảnh khắc có chánh niệm, là mỗi khoảnh khắc vun bồi tâm định thêm vững chảy, và trong thời gian ngắn, tâm sẽ phát triển mạnh, sắc sảo và có khả năng xuyên thấu.

Hành trình ta đi bao gồm sự tương giao tốt với thấu hiểu trực giác sâu sắc trong tính thể tự nhiên của con người. Có lời khuyên thích đáng trong Mount Analogue trên con đường tuệ nầy là: “giữ vững mục tiêu trên đoạn lên đỉnh. Nhưng đừng quên nhìn phía trước. Bước cuối tuỳ thuộc vào bước đầu tiên. Đừng nghĩ rằng bạn đã đến nơi chỉ vì thấy đỉnh núi. Cẩn thận trong bước đi. Chắc chắn trong bước kế tiếp. Nhưng đừng để những tiểu tiết đó chia phối mục tiêu cao cả nhất. Bước cuối cùng tùy thuộc vào bước đầu tiên.”

Lúc nào cũng sống trong hiện tại, đào luyện sự tỉnh thức trong từng giây phút, và tin tưởng vào hướng giải thoát ta thấy ra.

Hỏi: Hình như tôi thấy có cảm giác mạnh hơn khi hít vào; cái nầy có khuynh hướng làm rối loạn sự tập trung của tôi. Tôi có thể làm gì được?

Trả lời: Hơi thở là đối tượng hành thiền rất thú vị do bởi sự cấu trúc rộng rải và cường độ của nó. Có khi mạnh và nặng nề, có khi rất yếu và nhẹ. Nó có thể thay đổi giửa hít vào hay thở ra hay sau đó không chừng. Lắm khi hơi thở hầu như không nhận ra. Cái làm cho hơi thở có giá trị hành thiền là khi hơi thở trở nên thật nhẹ ta có thể dùng chổ khó nhận ra nó để chú tâm mạnh hơn đến tần lớp thật vi tế. Khi bạn cảm thấy hơi thở càng vi tế, càng chú tâm mạnh hơn nửa để ý thức được nó. Cần phải bổ sung thêm năng lượng-không phải là làm việc gì khác, chỉ đơn giản yên lặng.

Hỏi:Làm sao ta biết nếu người đó chứng ngộ rồi?

Một chúng sanh chứng ngộ không để lại một dấu vết gì. Không cách nào mà nhận ra được cái tâm giải thoát qua sáu giác căn vì nó vượt ra khỏi tâm thức bình thường nầy. Giống như cố tìm lại lửa trong khi lửa đã tắt mất rồi. Bạn sẽ tìm nó ở đâu? Bạn không thể nghĩ chứng đắc theo lối có một nơi nào hiện hữu. Chẵng có một dấu ấn đặc biệt nào trên trán người đó cả, nhưng bạn có thể nhận diện được phẩm chất trí tuệ và từ bi trong người đó, và tôn kính phẩm chất đó.

Hỏi: Về mối quan hệ với cha mẹ ta và trách nhiệm hướng dẫn họ con đường. Cha mẹ tôi ngạc nhiên tại sao tôi lại ở đây và làm gì, hình như không có cách nào làm họ hiểu cả.

Có rất nhiều phương tiện truyền thông-lời nói cũng chưa phải là cách tốt nhất. Nếu bạn đối xử với cha mẹ, hay bất cứ người nào, và lúc nào cũng có thái độ trầm tỉnh, không phán xét, chấp nhận, đầy yêu thương và rộng lượng, bạn không cần nói một lời nào. Cách hành xử hiện tại của chính bạn trong an bình tạo ra một khoảng trống nhất định. Cần phải có thời gian. Con người bị trói buột trong mỗi dính mắc riêng để nhìn cuộc đời. Ngay khi bạn nói việc gì ra có vẻ như răng đe, lập tức họ sẽ phản ứng chống lại. Tốt nhất là đừng như vậy, chỉ sống theo bản tính tự nhiên của bạn, tự để Pháp hiển lộ trong bạn. Một cái tâm bình an sẽ ảnh hưởng lợi ích đến chung quanh. Nó cần phải có thời gian, lòng kiên trì, và rất nhiều tình thương nửa.

Hỏi: Trong lúc tọa thiền tôi nhận ra tôi đang quán tưởng đến hơi thở như là nước đang chảy ngược, chảy xuôi trong đường hầm. Có phải nó sẽ chánh niệm hơn ngồi mà không quán tưởng?

Đúng vậy. nguồn căn của hành tập là đem tâm về tần lớp cảm nghiệm hiện tại hơn là khái niệm. Quán tưởng hơi thở là khái niệm. đó là việc không phải đang xãy ra; đó là cái tâm đang phóng tưởng lên trên một sự kiện đang xãy ra. Ý chính là kinh nghiệm được những cảm giác của hơi thở, không tạo lên một khái niệm về nó.

Hỏi: Lòng mến mộ Chúa có thích hợp gì không trong hành tập?

Tùy thuộc vào ý nghĩa Chúa của bạn là gì. Người ta có rất nhiều định nghĩa khác nhau trong từ đó. Một ý nghĩa đã có thể Chúa là sự thật tối hậu, cũng giống như là Pháp, chơn Pháp, đường lối vạn hữu như là. Một cách để dâng hiến là xả bỏ tất cả. Để cho Pháp tự hiển bày rộng mở ra.

Sáng Thứ 3: Hướng Dẫn Những Cảm Giác

Cảm giác là các nhân tố tâm sở đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển nội quán. Cảm giác là nói về trạng thái dễ chịu, khó chịu hay trung hòa và lúc nào cũng hiện hữu từng giây phút trong thức. Tính chất thích hay không thích nầy là sản phẩm của tâm bị điều kiện hóa và có khuynh hướng khiến cho tự nó bị dính mắc hoặc lên án; nắm giữ những đối tượng, cảm giác cái đem lại lạc thú cho thân, lên án, trách móc và có ác cảm với những cái không vừa ý mình. Khi ta ý thức chánh niệm với cảm giác, ta bắt đầu quan sát chúng với buông xả và quân bình.

Một trong những đối tượng nổi bật nhất ta dể nhận ra là cảm thọ trong thân. Ta có thể rỏ ràng kinh nghiệm những đau đớn, dể chịu hay trung tính. Chú tâm vào những cảm giác nầy là phương pháp tốt trong phát triển chánh niệm thọ cảm: kinh nghiệm được cảm giác thân mà không dính mắc vào trạng thái hỉ lạc, khinh an, tê nhẹ nhàng và không có sự oán ghét gì về đau và căng thẳng. Chỉ đơn giản quan sát tất cả những nóng, lạnh, ngứa, tê rần, nhẹ nhỏm, nặng nề-và những gì có liên quan đến trạng thái tâm như chúng đang trổi dậy mà không dính mắc hay lên án hoặc đồng hóa với chúng.

Khi bắt đầu ngồi thiền ta ý thức được cả hai trạng thái phồng lên-xẹp xuống của bụng hay hơi thở ra-vào. Và rồi bất cứ những cảm thọ nào trở nên rỏ rệt trong thân, ta chú tâm vào đó với tất cả chánh niệm. Quan trọng là giữ tâm được thư giãn trong lúc quan sát những cảm thọ, đặc biệt là khi có cơn đau khốc liệt trong thân. Thân và tâm có khuynh hướng trở nên căng thẳng và hay phản ứng lại với cơn đau. Đây là sự biểu lộ của thái độ kình chống lại, không thích, muốn tránh né, và tạo ra tình trạng tâm không quân bình; thư giãn trong cơn đau và quan sát diển tiến đang xảy ra. Khi tâm không còn phiền hà gì với cơn đau, nhẹ nhàng và chuyên chú vào đối tượng, cơn đau được cảm nghiệm không như là một khối đặt mà là một dòng tương chuyển, nổi lên và biến mất liên tục. Ngồi với tâm xả và bình an, chỉ quan sát những cảm giác đang luân chuyển, không phiền não, không mong đợi.

Đau là đối tượng hành thiền tốt. Khi có một cơn đau ngặt ngèo trong thân, sự tập trung càng trở nên mạnh mẽ hơn. Tâm trụ vào đối tượng mà không lạc mất đề mục nhiều. Bất cứ khi nào một cảm giác trong thân nổi bật hẳn lên, lấy đó làm đề mục để thiền. Khi đối tượng đó yếu đi, trở về lại với hơi thở. Nhận thức cũng nên nhịp nhàn không nhảy lung tung hay chuyển đổi nhiều nơi đối tượng, chỉ coi chừng “phồng-xẹp,” “đau,” “ngứa,” “nóng,” “lạnh,” “phồng-xẹp.” Khi bạn thấy thân mình quá căng vì cơn đau, thận trọng quan sát trạng thái khó chịu của tâm, tính chất của cơn đau. Chánh niệm về cảm giác đó và tâm sẽ tự nhiên trở về trạng thái quân bình.

Tối Thứ 4: Thuần Quan Sát

Có một lời tiên tri cổ xưa nói rằng 2500 năm sau khi Đức Phật nhập diệt, Phật Pháp sẽ hưng thịnh trở lại. Chúng ta hiện tại đang kinh nghiệm lời tiên tri là đúng, những gì Đức Cồ Đàm thực tập khi xưa bây giờ được mang ra sử dụng. Để biết ơn về điểm chính yếu của lời tiên đoán sâu rộng nầy, rất là có ích để ta hiểu ý nghĩa của chữ “Dharma”. Dharma là tiếng Phạn và ý nghĩa rộng rải nhất của nó là Pháp, đường lối của mọi vật như chúng đang là, tiến trình của sự vật, và một cách chính xác hơn, giáo lý của Đức Phật: tất cả đều là Pháp. Nó cũng có nghĩa là của mỗi vật thể riêng biệt, những nguyên tử vật lý, bất cứ cái gì có sự sống đều được bao gồm. Những yếu tố của tâm: suy nghĩ, hồi tưởng, xúc cảm, tiềm thức, và những nguyên tố vật lý, từng thể một như vậy được gọi là Pháp. Trong công tác thiên liêng nầy, nhiệm vụ chính là thăm dò và khám phá ra Pháp nầy trong ta, để minh bạch và hiểu thấu tất cả yếu tố thân và tâm, trở nên tỉnh giác từng thể một riêng biệt cũng như hiểu được nghiệp luật vận hành và những tương tác. Đây là cái ta đang hành trì: kinh nghiệm được thực tướng trong vạn hữu, thực tướng của ta là ai, là gì.

Có một tâm thức, nền tãng của tất cả những gì muốn tìm tòi trong tâm linh, được gọi là tâm Biết, và đặt tính tâm đó chỉ thuần quan sát. Thuần biết đây có nghĩa là quan sát vạn hữu như chúng đang là, không chọn lựa, không so sánh, không định mức, không phóng tâm và mong đợi những gì đang xãy ra; thay vì vậy, ta vun bồi đức tính thuần quan sát mà không chọn lựa và không can thiệp (vào những gì đang xãy ra).

Tâm thuần biết nầy được diễn tả rất sâu sắc bởi Ngài Haiku vị Thiền Sư nổi tiếng Nhật Bản:

Cái ao lâu đời.
Một con ếch nhảy vào ao.
Bũm !
Không phải diễn tả khung cảnh tuyệt vời lúc vần thái dương bắt đầu lặn và bầu trời bình yên buổi tối xãy ra tại cái ao. Chỉ là nhận thức thật rỏ ràng những gì đang là và được xãy ra. “Cái ao lâu đời; một con ếch nhảy vào ao; bũm !” Thuần biết: học cách nhìn và quan sát, theo lối đơn giản nhất và trực tiếp nhất. Không gì để gọi là ngoài đó. Nó là tâm với tính chất xuyên thấu vô cùng mạnh mẽ.

Như lúc tính chất thuần quan sát nầy được phát triển nó bắt đầu có ảnh hưởng thay đổi lối sống cơ bản cố định của ta. Khẩu lệnh của ta là “ở tại đây”-có mặt trong từng giây phút hiện tại. Vấn đề là làm sao để được như vậy. Tâm ta thường thì ở trong quá khứ, tưởng nhớ lại những gì đã xãy ra từ trước, hay dự tính cho tương lai, tưởng tượng những gì sẽ xãy ra với bồn chồn, lo âu. Nhớ nhung về chuyện đã qua, mộng tưởng cho sau nầy; thường thì rất khó để trú tâm trong hiện tại. Thuần biết là đặc tính tâm, ý thức được ta đang sống và tỉnh giác ngay đây và bây giờ. Lắng lòng lại trong hiện tại, cảm nghiệm tròn đầy những gì đang diển biến.

Có câu chuyện Thiền nói về sống trong từng giây phút. Hai nhà Sư đang trên đường trở về chùa trong một buổi chiều. Trời đang mưa suốt và đường lộ ướt sủng với sình lầy. Họ đến một ngả tư đường nơi một cô gái tuyệt đẹp đang đứng và không thể qua băng ngang được vì đường quá sình lầy và cần sự giúp đỡ của các nhà Sư. Không ngần ngại, nhà Sư thứ nhất bồng cô ta lên đưa qua đường. Họ lại lẳng lặng tiếp tục đi. Tối hôm đó, vị Sư thứ hai không thể kềm giữ im lặng được nữa, nói đến vị Sư kia, “Tại sao mà huynh có thể làm vậy được? ! Chúng ta là những người tu hành, kể cả nhìn đàn bà cũng không được, huống hồ là đụng vào cô ấy. Đặt biệt là trẻ và đẹp nữa.” “Tôi đã để cô gái lại phía sau,” vị Sư thứ nhất nói, “Tại sau Sư vẫn còn mang cô ta đến giờ?” Khi tâm Biết phát triển, chú tâm vào những gì đang xãy ra chung quanh ta, ta bắt đầu kinh nghiệm và đáp lại trong hiện tại với sự trực phát và tự do.

Thuần biết cũng đem tâm về trạng thái tỉnh nghỉ. Một cái tâm không rèn luyện thường hay phản ứng, bám níu vào sảng khoái và lên án chỉ trích những gì gây khó chịu, nắm giữ cái thích, đẩy ra cái không muốn, phản ứng lại với tham và giận. Đó là tâm mệt mỏi và không quân bình. Như tâm thuần quán sát được đào luyện kỷ càng hơn ta học được cách cảm nghiệm được tư tưởng, cảm giác, hoàn cảnh và con người, mà không bị căng thẳng về dính mắc hay phiền lụy. Ta bắt đầu có kinh nghiệm hoàn toàn của một diển trình, với yên tĩnh và tâm quân bình.

Thuần quan sát không bị giới hạn trong thời gian tọa thiền hai buổi sáng tối. Nghĩ rằng lúc tọa thiền mới dụng công và trọn ngày còn lại thì không, sẽ làm đời sồng rời rạc và làm giảm đi sức mạnh của tâm đó. Thuần quan sát có thể áp dụng được bất cứ lúc nào và thích đáng trong từng giây phút, bất luận oai nghi nào, đi, đứng , nằm , ngồi, nói chuyện hay trong lúc ăn. Ta nên bồi đắp sự thuần quan sát trên mọi đối tượng, mọi trạng thái của tâm, trong mọi tình huống. Mỗi giây phút ta nên sống một cách tròn đầy, toàn tâm toàn ý. Có câu chuyện một người đang bị cọp đuổi. Anh đến một triền núi và đu trên một sợi dây dại. Phía trên con cọp ngửi chừng anh ta, phía dưới, một con cọp khác đang gầm gừ chờ anh rơi xuống. Trong lúc anh ta lơ lửng như vậy, có hai con chuột bắt đầu gặm mòn sợi dây. Ngay lúc đó anh thấy một trái dâu chín đỏ gần kề. Một tay đu trên dây, tay khác cố với bẻ trái dâu. Trái dâu thật là ngọt lịm.

Chất lượng khác của tâm thuần quan sát là khi đã trải qua một thời gian huân tập, nó trở thành tự nhiên, không cố gắng, tự nó thức tỉnh thôi. Giống như tiến trình một người học đàn. Ngồi xuống, tập chạy ngón theo bài bản hướng dẫn. Ban đầu, những ngón tay di chuyển thật khó khăn; ngón tay luôn bấm trật phím nhạc và âm thanh nghe dở tệ. Nhưng cứ mỗi ngày ta rèn luyện, dần dà, ngón tay bắt đầu lướt trên phím một cách dể dàng, bản nhạc nghe rất hay. Sau thời gian cố định, trở nên thành thạo, đánh nhạc không còn là sự cố gắng nữa. Lúc bấy giờ không có khác biệt lúc đánh hay tập; đánh đã là tập rồi. Cũng như vậy, như ta thực tập tâm thần quan sát, ta bắt đầu rất chậm, biết từng động tác theo thứ tự, “nhấc,” “di chuyển,” “đạp,” ý thức hơi thở, “lên-xuống,” “ra-vào.” Lúc mới tập, phải dụng công rất nhiều. Tâm thường hay mất đi chánh niệm. Có nhiều khó khăn và chướng ngại. Nhưng khi tâm được thuần trong chánh niệm rồi, tự nó tăng trưởng một cách tự nhiên. Có những thời điểm trong lúc hành tập khi chánh niệm có trớn mạnh, tự chính nó chánh niệm thôi, ta hành tập thật dể dàng, đơn giản và tự nhiên cái được sinh ra từ tâm Biết mà không dụng công.

Thuần quan sát là cách học hạnh lắng nghe tâm thân mình và môi trường. Có thể trong thời gian nào đó bạn ngồi yên lặng bên bờ sông hay bờ biển. Thoạt đầu ta chỉ nghe một thứ âm thanh dồn dập. nhưng nếu ngồi thật lặng yên, không làm gì khác ngoài chú tâm lắng nghe, ta bắt đầu nhận ra âm thanh nhẹ, sâu thẳm khác, những lượn sóng đánh tạt và bờ, hay nước chảy mạnh của dòng sông. Trong hòa bình và tâm an lành đó ta kinh nghiệm được sâu thẳm những gì đang xãy ra. Cũng vậy, khi ta lắng nghe tự thân; thoạt đầu mình chỉ nghe là “bản ngã” và “cái tôi.” nhưng dần dà thân nầy tự nó hiển lộ là một khối tập hợp của những nguyên tử đang thay đổi, suy nghĩ, cảm giác, xúc cảm, và tưởng tượng, tất cả đều được soi sáng do chỉ đơn thuần lắng nghe, bằng chú tâm. Có một bài thơ tuyệt hảo của một vị Thiền Sư Ni:

Sáu mươi sáu lần đôi mắt nầy được mục kiến sự thay đổi cảnh mùa thu.
Tôi đã nói đủ về vần trăng; xin đừng hỏi nữa.
Chỉ cần lắng nghe tiếng thông và tùng reo vang khi không gió lay động.
Lắng nghe tiếng động của cây khi gió không lay động. Sự an lành của tâm thức đó diển tả trạng thái quân bình, sự sáng tạo và tiếp thu. Nó tạo ra cảm giác ý thức, xuyên thấu và chú tâm hoạt động. Nó tiếp thu trong sự không chọn lựa, không phân biệt hay xét đoán. Nó là tâm nhẹ nhàng, mở rộng. Khi chú niệm và nhận thức trong sáng được đi đôi với tiếp thu và bằng lòng, quân bình trở nên hoàn hảo nhất, và tâm cảm nhận một sự hòa đồng tuyệt đối, trong sáng cân bằng.

Có hai nhân tố tinh thần chịu trách nhiệm chủ chốt trong phát triển tâm biết. Thứ nhất là Định, khả năng tâm trụ trên một đối tượng. Nhân tố khác là chánh niệm, cái lưu ý đến những xãy ra chung quanh trong từng giây phút mà không để tâm bị lệch khỏi đối tượng; nó giữ tâm dính trên đối tượng và tập trung. Khi chánh niệm và định được phát triển, ta đạt đến tâm quân bình, sự lắng nghe thâm thúy xãy ra. Tâm ý thức một cách sâu sắc, xuyên thấu phát triển và phơi bày ra nhiều mặt ta là ai.

Trí tuệ không đến từ bất cứ từ trong một đối tượng đặt biệt nào, hay bất cứ trạng thái nào. Ngài Suzuki Roshi đã nói về cái “không có gì đặc biệt..” Chẵng có gì đặc biệt trong tâm ta, trong thân ta, trong đường lối vạn hữu chúng đang xãy ra. tất cả những gì sinh ra tự nhiên sẽ diệt đi; chẵng có gì đặc biệt để đạt được hay nắm bắt cả, chẵng có gì đặc biệt để ôm giữ. Bất cứ cái gì đến trong dòng chuyển biến thì cũng tốt thôi. Cái quan trọng là sự quân bình và trong sáng của tâm. Không có gì đặc biệt để ao ước khi gặp những kinh nghiệm hơi khác thường. Mặc dù hiện tượng khác thường thỉnh thoảng có thể xãy ra trong lúc hành tập, chúng cũng chẵng gì đặc biệt, chỉ là thêm một sự kiện để quan sát, chịu chung ảnh hưởng của luật vô thường. Cái mà ta muốn làm là xả bỏ tất cả, không đồng hóa với bất cứ cái gì dù là thế nào. Tự do về mọi mặt, không bị ràng buột, kể cả xiềng xích bằng vàng ròng, đến bất cứ những gì xãy ra. Khi ta kinh nghiệm diển tiến vô thường trôi chảy thật sâu sắc, khi ta có cái nhìn trong sáng và trực tiếp mỗi cơ phận trong ta đang thay đổi, chuyển biến, đó là lúc ta bắt đầu buông xả cái điều kiện hóa bị dính mắc sâu trong tiềm thức, ta và dòng biến chuyển là một. Không phản kháng, không ôm giữ, nắm bắt. Ta thể nhập vào dòng luân lưu của Pháp đang trải rộng.

Hỏi: Không có linh hồn, kể cả là một phần của biến trình?

Đáp: Sự phát triển nguyên thể của ý thức đến từ sự chứng nghiệm vạn vật với cái tâm yên lặng, không phải tư tưởng, khái niệm. Nó đi từ tần lớp khái niệm suy nghĩ của tâm đến tần lớp kinh nghiệm trực giác. Mọi ngôn ngữ sử dụng đều không thích đáng khi đem so sánh đến kinh nghiệm ý thức yên lặng. Tôi nghĩ cái giá trị đáng lưu ý tới bây giờ là không cần phải tin mù quán bất cứ việc gì. Hiểu thấu nguồn chơn sâu xa đến từ kinh nghiệm chính bạn trong thiền tập. Bạn biết được khái niệm có hay không đều không thành vấn đề. Có những vị toạ thiền cao cấp chưa từng học, chưa từng đọc, không phải là thông minh, nhưng họ thọ nhận cách thức hành tập và thực chất họ hành theo. Toàn chơn của Pháp mở rộng trong họ; họ cảm nghiệm được nhiều tần lớp chứng đắc và hơn nửa không có từ ngữ để truyền thông sự thấu hiểu yên lặng của họ. Điều rất quan trọng là kinh nghiệm được chơn pháp trong mỗi chúng ta cái đem đến giải thoát ý kiến và tư tưởng.

Hỏi: Mục đích của thực tập thiền định là gì?

Có rất nhiều cách để phát triển phần tu tập. một cách theo truyền thống là đạt được thiền định trước, rồi sử dụng năng lực tâm đó để đưa đến tuệ Minh Sát. Việc nầy có thể mất một thời gian dài do bởi cần phải có những môi trường đặc biệt để phát triển định lực. một phần đã xãy ra bên Miến Điện, nói riêng, khoảng 100 hay 150 năm gần đây, là sự phục hưng kỷ thuật thiền Minh sát cái phát triển định và tuệ cùng một lúc, mang lại đồng thời từng giây phút ý thức và tâm định đầy đủ cho sự chứng ngộ.

Hỏi: Những việc ta làm trên thế gian nầy ta có quyền chọn lựa chứ?

Đa số những gì xãy đến chúng ta bây giờ đều đã được qui định sẵn bởi nghiệp quá khứ của ta, nhưng ta phản ứng như thế nào đều tùy thuộc vào sự chọn lựa của ta ngay lúc đó. Ta có thể trưởng dưởng chánh niệm hay không. Chẵng có gì nhất thiết trói buộc ta để phản ứng lại sự kiện. Tự do nằm ở nơi ta có liên hệ như thế nào đến sự việc đang xãy ra hiện thời.

Hỏi: Quan niệm tâm lý học phương Tây về tiềm thức có liên hệ như thế nào đến thiền?

Việc xãy ra như lúc tâm thật lặng yên và ta trở nên ý thức một cách sắc sảo hơn, là nhiều sự việc những cái nằm các tần lớp dưới ngưỡng cửa ý thức bình thường, đa số những cái đó được gọi là tiềm thức hữu hình, được soi chiếu bởi chánh niệm. Ta bắt đầu quán sát cái lúc xưa là tiềm thức điều kiện hoá, và qua sự ý thức được nó sẽ đưa đến sự hội nhập tròn vẹn hơn trong tâm ta.

Hỏi: Dụng công ý thức trong từng giây phút có làm giảm đi tính phản ứng bộc khởi?

Vô thức tất nhiên không phải là không phản ứng trực tiếp. Nếu ta đang hành động một cách máy móc, ứng đáp lại theo điều kiện hóa riêng mỗi cá nhân, đó không phải là đối ứng tức thời, đó chỉ là một người máy. Khi một tín hiệu cố định qua sáu căn được đưa vào, ta hành động, phản ứng mà không hay biết gì cả. Đó không phải là trạng thái tâm ứng phó-nó là hành động máy móc. Ứng đáp tức thời đến khi tâm được yên lặng, khi tâm ở trong tần lớp trực giác, ý thức rỏ ràng từng giây phút. Khi chánh niệm được tăng trưởng, nó không cắt đoạn mạch lạc quán sát, làm vở đi nhịp điệu tự nhiên. Lúc ban đầu, rất là hữu dụng để ta tập trung vào mỗi biến trình riêng biệt, nhưng khi tâm thuần chú niệm được tăng trưởng mộ cách nhuần nhuyễn, nó lưu chuyển tự nó mà không dụng công nhiều.

Hỏi: Với sự phân tích phương pháp tập đàn Dương cầm và phương pháp thuần chánh niệm, đúng là có nhiều người tập đàn Dương cầm nhưng rất ít người tinh thông, sự việc đó có đúng cho thực tập thuần chánh niệm, rất ít người thật sự trở nên chánh niệm?

Mọi người tiến bộ một cách khác nhau. Được kể rằng có người tiến bộ chậm chạp và nhiều gian nan khổ sở. người khác tiến bộ chậm nhưng với nhiều cảm xúc dể chịu. Có người tiến bộ rất mau với nhiều phiền muộn, và người khác tiến bộ mau với nhiều hỷ lạc. Đa số đều tùy thuộc vào nghiệp huân tập quá khứ của ta, phát triển và tu dưởng các căn nhiều ít như thế nào. nhưng nếu ta đang đối mặt đúng phương hướng, chỉ một việc ta phải làm là cứ tiếp tục đi. Nếu nó phải cần đến một năm, sáu năm, hay năm kiếp nửa, miển là ta đang đi đúng lối, chỉ vậy thôi, đó mới là quan trọng. Ta muốn đối mặt đi về hướng giải thoát, không phải đi ngược trở lại, thục lùi vào bóng tối. vậy nên dù cho sự tiến triển của mỗi ngườI sẽ là như thế nào, chổ của ta đang đứng là nơi ta phải bắt đầu.

Hỏi: Ông nói người nào đó phải trải qua nhiều kiếp. Có một cái gì đó phải đi qua những kiếp đó như là một linh hồn?

Nó cũng có thể được hiểu một phần nào đó trong ý nghĩa những sự thay đổi cái xãy ra trong một đời. Lấy thí dụ, nếu bạn hồi tưởng lại năm hay mười năm về trước, thân thể của bạn đã hoàn toàn khác xa bây giờ, kể cả các tần lớp tế bào. Nó đã đi qua nhiều sự biến đổi. tâm đã trải qua không biết bao nhiêu lần biến chuyển, xuất hiện rồi tàn đi. Chẵng có nơi nào bạn có thể chỉ đúng điểm trụ của nó, không có nơi nào, trong thân và tâm nầy, cũng là cái thân và tâm hồi mười năm về trước. Nhưng bạn bây giờ là cái đã bị điều kiện hóa bởi những gì bạn đã là trước kia và bởi mỗi giây phút kế tiếp. Nói theo cách khác, mỗi giây phút là điều kiện quyết định cho sự xuất hiện của giây phút tới. Chẵng có gì được gọi là mang qua nhưng có một sự liên hệ giửa phút giây nầy và phút giây kế tiếp. Có một sự chuyển biến liên tục rất trật tự. Ở giây phút cuối của sự chết, tính chất của thức lúc đó là điều kiện trổi dậy của thức tái sanh kế tiếp. Chẵng có gì được mang qua, nhưng tùy thuộc vào giây phút cuối sẽ trổi dậy một thức mới.

Sáng Thứ 5: Hướng Dẫn Tư Tưởng

Tư tưởng là đối tượng thiết yếu để chánh niệm. Nếu ta không ý thức được tư tưởng như chúng đang hiện tiền, rất là khó để triển khai trí tuệ soi thấu vào khách quan của thiên nhiên và đi sâu vào gốc rể của chính ta và sự đồng hóa vi tế trong quá trình diển biến của tư tưởng. Sự đồng hóa nầy càng cố định thêm ảo tưởng về bản ngã, của một “người” đang suy nghĩ. Thiền về đối tượng tâm là chỉ đơn giản ý thức có tư tưởng đang trổi dậy, cái tâm đang suy nghĩ, mà không can dự vào sự việc đang xãy ra: không phải dứt bỏ những gì liên quan đến tư tưởng, không phải phân tích tư tưởng và ngạc nhiên tại sao nó đến, chỉ thuần ý thức rằng ở thời điểm đặc biệt đó, “suy nghĩ”” đang xãy ra. Rất có ích để ta ghi chú “suy nghĩ, suy nghĩ ” mỗi lần có tư tưởng; quán sát tư tưởng mà không phê bình, không phản ứng lại dữ kiện, không đồng hóa với chúng, không cho tư tưởng đó là tôi, hay của tôi. Tư tưởng chính tự thân nó là người suy nghĩ. Chẵng có ai đằng sau cả. Tư tưởng tự nó phóng tâm. Nó đến một cách không mời mọc. Bạn sẽ thấy rằng khi không dính mắc với suy nghĩ, tư tưởng không kéo dài. Ngay khi bạn chánh niệm được tư tưởng, nó biến mất và sự chú tâm trở về hơi thở. Có người thấy hữu dụng để đặt tên diển tiến tư tưởng một cách chính xác hơn, ghi chú từng loại tư tưởng, là “lập kế hoạch” hay “tưởng tượng” hoặc “nhớ nhung.” Cái nầy làm sắc bén thêm cho tâm tập trung. Nếu không vậy, chỉ đơn thuần ghi chú “suy nghĩ, suy nghĩ” là cũng đủ. Cố gắng ý thức được tư tưởng ngay khi chúng có mặt, hơn là vài phút sau mới chánh niệm được chúng, quá trể. Khi chúng được lưu tâm với mức độ chính xác và quân bình, chúng không có sức năng làm khuấy động tâm.

Không nên cho tư tưởng như là sự cản trở hay chướng ngại. Chúng chỉ là một đối tượng khác trong chánh niệm, một đối tượng khác trong Thiền. Đừng để tâm trở nên làm biếng và thả trôi nó. Gắng tin tấn, làm cho tâm trong sáng hơn với sự lưu ý đến những gì đang xãy ra trong hiện tại.

Ngài Suzuki Roshi trong cuốn Tâm Thiền, Tâm sơ cơ, viết:

Khi bạn hành thiền đừng bắt tâm phải dừng lại. Để nó tự nhiên dừng lại. Nếu có gì đến trong tâm, hãy để nó đến và cũng tự nó đi. nó sẽ không trụ lâu. Khi bạn cố gắng dừng tư tưởng, nghĩa là bạn đang bị phiền toái bởi chính tư tưởng mình. Đừng để bị dính mắc vào đó. Nó xuất hiện như là vật gì đến từ bên ngoài tâm thức, nhưng thật sự nó chỉ là những làn sóng não và nếu bạn không bị phiền toái bởi làn sóng não đó, dần dà tâm trở nên bình lặng hơn…Nhiều cảm giác sẽ đến, nhiều tư tưởng và hình ảnh sẽ nổi lên nhưng chúng chỉ là sóng tâm thức. Chẵng có gì đến từ bên ngoài của tâm…Nếu cứ để tâm như nó đang là, nó sẽ trở nên tỉnh lặng. Cái nầy mới gọi là đại tâm.Cứ để yên cho mọi sự việc xãy ra như chúng đang là. Cứ để yên những tư tưởng, hình ảnh, cảm giác trổi lên và qua đi mà không bị phiền toái, không phản ứng, không phán xét, không dính mắc, không bị đồng hóa với chúng. Nhập cùng thể với một cái tâm rộng mở, quan sát một cách cẩn thận, một cách rất chi tiết, tất cả những lượn sóng tâm đến rồi đi. Thái độ nầy đem đến trạng thái tâm thăng bằng rất mau. Đừng để tâm đi ra ngoài vòng kiểm soát tập trung. Giử cho tâm có sự nhận thức một cách bén nhọn, từng giây từng phút, với những gì đang xãy ra, là hơi thở ra-vào, là bụng phồng-xẹp, là cảm giác, hay tư tưởng. trong mỗi lúc đều được tập trung trên đối tượng với một cái tâm quân bình và thư giãn.

Tối Thứ 5: Khái Niệm Và Thực Tế

Có một câu ngụ ngôn cổ nổi tiếng trong cuốn Republic của Plato về một cái hang đá. Trong hang có một nhóm người sắp hàng dọc, bị cùm như thế nào đó mà họ phải quay mặt vào vách đá. Phía sau là một đống lửa đang cháy bùng và họ thấy những bóng dáng di động trên vách tường đen theo lối sinh hoạt đời sống bận rộn thường nhật. Nhóm người bị xiềng đó chỉ có thể thấy bóng dáng trên tường thay đổi, và vì đó là tất cả những gì họ thấy, họ ngỡ đó là thật . Thỉnh thoảng một người trong nhóm, qua sự gắng sức mảnh liệt, thế nào đó mà nới rộng gông cùm và quay lại phía sau. Người đó thấy đống lửa, những tiến trình hình ảnh di động trên tường là từ lửa soi bóng vào vách và người đó bắt đầu hiểu rằng bóng dáng trên vách đá đen là không thật, nhưng chỉ là sự phản chiếu. Có thể với sự cố gắng hơn nửa, người ấy có thể phá được gông cùm hoàn toàn và hội nhập vào ánh sáng chan hòa, trong tự do giải thoát.

Phạm trù hiểu biết nhỏ nhoi của ta cũng giống như những người bị xiềng trong hang đá đó. Những bóng dáng là thế giới khái niệm cái mà ta đang sống trong ấy. Bị xích xiềng qua sự dính mắc, ta hiểu thế giới nầy qua quan niệm, hình dung, tưởng tượng, sự cấu trúc của tâm thức, và cho những khái niệm bản thân đó là thật.

Có rất nhiều khái niệm ta bị điều kiện hóa rất mạnh in sâu vào trong não bộ. Lấy thí dụ, đời sống người ta lệ thuộc suy niệm về nơi chốn, quốc gia. Trên trái đất, không có sự chia rẽ giữa các quốc gia. Tự tâm tạo sự chia rẽ độc đoán. Mỗi lần bạn đi qua một ranh giới quốc gia nào bạn sẽ thấy “rõ ràng” bạn tốn công sức vào khái niệm nơi chốn là bao nhiêu. Quá nhiều vấn đề trong thế giới nầy-căng thẳng chính trị, kinh tế và thù nghịch-đều có liên quan đến khái niệm, “đây là tổ quốc tôi, quốc gia tôi.” Nếu hiểu ra rằng khái niệm chỉ là sản phẫm của tiến trình tư tưởng, đó là ta bắt đầu thoát ra từ dính mắc tư tưởng.

Câu chuyện ý niệm về nơi chốn tôi được nghe kể qua một cô gái Hy Lạp đang du hành qua Ấn Độ. Cô diển tả rằng cô băng ngang biên giới giữa một sa mạc. Biên giới là một dòng sông đã khô cạn, và phía trên có một cầu sắt lớn, phân nửa được sơn xanh, phân nửa khác được sơn đỏ. Không có gì chung quanh ngoại trừ dãy sa mạc khô cằn và chiếc cầu sắt được sơn nhiều màu. Chính giữa cây cầu có một cổng sắt được khóa kỷ từ hai phía. Khi một người muốn đi qua từ quốc gia nầy đến quốc gia khác, lính gác bên nầy gọi lính gác bên kia, hai bên tiến lên giữa cầu, cùng một lúc, họ tra chìa khóa và mở ổ khóa, mở cổng, vượt qua biên giới.

Khái niệm thời gian cũng bị điều kiện hóa mạnh mẽ trong tâm, ý tưởng về quá khứ và vị lai. Thời gian, đó là gì? Ta có những suy tưởng cố định nảy ra trong hiện tại-hồi phản ký ức-ta dán nhản từng loại tư tưởng “quá khứ,” và phóng tâm miên man đến nơi nào, vượt khỏi hiện tại. Cũng thế, ta bận rộn trong suy tính và tưởng tượng, đặt tên những tư tưỡng nầy là “vị lai,” và tâm tưởng tượng phóng ra mà cho là thực. Ta ít khi nào thấy rằng “quá khứ” và “vị lai” đang xãy ra là ngay lúc nầy. Thấy được tất cả như vậy, đó là giây phúc hiện tại đang phơi bày. Ta tạo ra những suy tư nầy để phục vụ cho mục tiêu lợi ích tự thân, cho ý niệm đó là có thật, do bởi không hiểu rằng chúng chỉ là sản phẩm trong tiến trình tư tưởng, ta mang nặng lo lắng, hối hận về quá khứ và lo âu về sự tiên đoán trước nhưng chưa xãy ra. Khi ta có thể ổn định lại trong giây phút, nhận thức được rằng quá khứ và vị lai là tư tưởng đang trong hiện tại, đó, ta giải thoát bản thân từ ràng buột của “thời gian.”

Rất hữu dụng để triển khai tuệ quan sát vào trong bản chất tự nhiên của khái niệm để thấy ta bị nô lệ với nó như thế nào. Ta có ý nghĩ là làm “chủ” sự vật. Cái đệm ghế ta đang ngồi đây nó không biết rằng nó được sở hữu chủ bởi chính ai. Khái niệm làm chủ là nói về mối liên hệ gần nhất giữa ta và vật thể. Khi ta gần với vật thể đó, sử dụng nó lâu, quen rồi và rồi có ý nghĩ là chủ nó. Thật ra sở hữu chủ là diển trình tư tưởng làm việc độc lập, không dính dáng gì đến quan hệ thực sự giửa ta và hiện vật trong thế giới. Khai thông bản thân từ sự trói buột quyền làm chủ là giải thoát ta làm nô lệ đến vật thể.

Một khái niệm khác mà ta hệ lụy một cách đặt biệt là khái niệm về đàn ông, đàn bà. Khi bạn nhắm mắt lại thì có hơi thở, xúc giác, tiếng động, suy tưởng-ở đâu là “đàn ông” hay “đàn bà” trừ ra đó như là ý nghĩ, tư tưởng? Đàn ông và đàn bà ngừng hiện hữu khi tâm lặng câm. Thử suy diển những ngọn sóng xuất hiện trên mặt đại dương và tự chúng nó bình phẫm chính bản thân như là sóng to, sóng nhỏ, đẹp hay hùng vĩ, là thật theo lối nói tương đối, nhưng không biểu hiện được sự hợp nhất phía dưới của một khối nước vĩ đại. Cũng giống như vậy khi ta bị kẹt trong khái niệm về thể, dạng cố định nào; so sánh, phán xét, ước lượng, tất cả nổi lên chỉ làm tăng thêm sự phân chia. Trong Thiền, ta giải thoát bản thân từ dính mắc trong những khái niệm đó và cảm nghiệm được khối cơ bản của các nguyên tố cái hợp nhất lại để tạo nên chúng ta.

Có thể tư tưởng sâu đậm nhất, cái xiềng cùm ta lâu dài nhất trong hang động ảo ảnh, cột ta trong bánh xe luân hồi sanh tử, là khái niệm về bản ngã. Suy tưởng rằng có ai đó phía sau sự luân chuyển nầy, rằng có một thực thể, một nguyên tố thường hằng, vĩnh cữu, là nền tãng của sự sống. Bản ngã, tôi, cái tôi, của tôi, chỉ là những suy nghĩ trong đầu, nổi lên đồng hóa chúng ta với những bối cảnh khác nhau theo diển biến thân và tâm. Từ thời sơ cơ cái “bản ngã” nầy đã không thật có rồi, hơn nữa bởi vì ta dính mắc quá nặng đến ý niệm đó, ta tốn không biết bao nhiêu là thời gian để bảo vệ, tăng trưởng, hay thỏa mản ảo giác bản ngã nầy. Hành Thiền giúp ta nhận thức bản chất tự nhiên đó để thấy rằng trong thực tế nó không thật có, chỉ đơn giản là một ý tưởng, một sự phóng tâm ra ngoài trên những gì xãy ra lúc đó.

Đây là một vài nhận thức kềm giữ ta trong hạn chế-khái niệm không gian, thời gian, quyền làm chủ, đàn ông, đàn bà, bản ngã. Bạn có thể nhận thấy những quan niệm nầy rất là mạnh, đời sống ta xoay tròn với chúng như thế nào, ta sống trong thế giới ảo ảnh như thế nào. Ngài Kalu Rinpoche, một Thiền sư Tây Tạng nổi tiếng, đã viết:

“Bạn sống trong ảo tưởng và sự xuất hiện của vật thể. Có một sự thật. Chính bạn là sự thật. Khi bạn hiểu ra điều nầy, bạn sẽ thấy bạn không là gì cả. Do bởi không là gì cả, cho nên bạn là tất cả. Thế thôi.”Có “bốn thực chất chủ yếu.” Chúng được gọi như thế bởi vì chúng có thể cảm nghiệm được, trái ngược lại không như chỉ đơn thuần tư tưởng. Những thực chất chủ yếu nầy bao gồm nguyên cả ý nghĩa kinh nghiệm của chúng ta.

Đầu tiên của những cái nầy là nguyên tố vật chất tạo ra mọi vật thể trong vủ trụ vật lý. Theo truyền thống, và theo cách ta có thể cảm nghiệm chúng trong khi hành tập, chúng được giải thích là yếu tố đất, nước, gió, lửa. Đất là yếu tố trải rộng. Ta cảm nhận được sự cứng mềm của đối tượng. Khi ta kinh nghiệm được đau đớn trong thân, nó là sự thể hiện của yếu tố nầy. Khi ta bước ta có xúc chạm với mặt đất, rằng cảm giác xúc chạm thực sự đó là yếu tố đất-nhận được sự cứng mềm, và thể chất co giãn duỗi nở.

Yếu tố lửa là đặc tính nóng và lạnh. Thỉnh thoảng trong khi thiền, yếu tố lửa trở nên rất là mạnh và thân có cảm giác dường như bị thiêu đốt. Không có “ai” bị thiêu đốt cả chỉ là bản chất yếu tố lửa hiển hiện ra; cảm giác của nóng và lạnh.

Yếu tố gió là sự chuyển động, di động. Trong lúc kinh hành, cái ta đang kinh nghiệm là sự hoạt động của gió. Chân và tay là khái niệm, một cái tên ta đặt ra để diển tả một kinh nghiệm cố định yếu tố chuyển động. Không có chân hay bàn chân, không có thân, không có bản ngã; chỉ đơn thuần cảm nghiệm sự di động và xúc giác.

Yếu tố nước tiêu biểu cho chất lỏng và quyện bện vào nhau, yếu tố nầy chịu trách nhiệm giữ cơ thể dính liền. Khi bạn có bột khô, các hạt bột nhỏ rời rạc, không dính vào nhau. Khi bạn cho nước vào, những tiền tố của bột kết hợp lại. Đó là thế nào yếu tố nước hiển lộ chính nó: dính liền tất cả yếu tố vật chất thành một khối.

Cùng với bốn yếu tố nầy còn có bốn đặt trưng vật chất phụ-mầu sắc, mùi thơm, vị nếm, và chất lượng dinh dưỡng; nguyên cả vủ trụ vật chất nầy có thể được cảm nghiệm trong quan hệ đến những yếu tố đó. Ta có thể trở nên ý thức được chúng, không bị ràng buột suy tưởng về chúng. Cái tên sàn nhà không thật có; sàn nhà là khái niệm. Cái được nghiệm chứng qua là cảm giác cứng mềm, nóng lạnh hay mầu sắc khi ta nhìn nó. Mắt thấy mầu sắc. Nhưng không thấy một cái tên. Khi bước ra khỏi nhà, đa số người ta thấy “cây,” nhưng đó chỉ là khái niệm những gì được thấy. Những gì thật sự được thấy là mầu sắc trong thể thức cố định. Một diển trình khác của tâm là đặt tên đó là “cây.” “Thân” là một khái niệm. Trong khi ta tọa thiền, “thân” bỗng dưng biến mất. Cái được trải qua là cảm giác: nóng hay lạnh, đau hay căng thẳng, các yếu tố đang hiện hành, tất cả chỉ là vô thường, trong tình trạng luôn đổi dời. Kinh nghiệm thiền tập cho ta ý thức được tần lớp vô-khái niệm của sự vật như chúng đang là, tư tưởng không còn dính mắc về chúng. Vậy khi ta thấy vật gì, ta ý thức được là đang thấy mầu sắc (không qua lý luận phân tích). Khi ta cảm giác được gì, ta ý thức được những đặt tính của cảm giác mà không bị kẹt trong khái niệm, không luôn luôn bình phẩm vaò những trực nghiệm.

Rất là thú vị khi thấy rằng khái niệm luôn bị đóng khung một chổ trong khi sự thực lúc nào cũng di chuyển thay đổi. Chữ “thân” vẩn ở nguyên một vị trí nhưng chính tự bản thân thì biến chuyển luôn. Khái niệm qui ước thì không dời đổi nhưng khi ta thật sự kinh nghiệm những gì đang xãy ra, ta phát hiện ra một dòng biến chuyển vô thường của tứ đại, cảm giác trổi dậy và biến đi. Chánh niệm thực nghiệm về sự vật tự nó lộ ra thực chất vô thường. Miển là ta còn lẩn quẩn trong vòng khái niệm, thì ta vẩn nằm trong ảo giác vô thường cái ràng buột ta đi trong bánh xe sinh tử luân hồi.

Quá trình phát triển tuệ nội quán là cái kinh nghiệm thật sự hơn là bóng dáng (nói suông). Rồi từ đó, đặc tính thật của vạn hữu trở nên rỏ ràng hơn.

Thứ hai trong bốn thực chất chủ yếu là thức. Thức là cái biết, nhận ra đối tượng. Đôi lúc người ta có quan niệm rằng trong thân-tâm nầy, có một thức từ lúc sinh ra cho đến khi chết, người quan sát là thực thể biết tất cả. Quan kiến nầy làm tăng cường thêm khái niệm của một bản ngã thường còn. Nó xãy ra khi ta không giữ tâm yên lặng đủ mức để quán sát sự tương tục của thức biết. Thức tự thân nó xuất hiện và biến đi trong mỗi tích tắc. Không phải chỉ một tâm quan sát mọi hiện tượng; ở mỗi thời điểm “tâm” được tạo ra và hủy diệt đi. Thức nghe thì khác thức thấy, nếm, ngửi, xúc chạm hay suy nghĩ. Có nhiều khoảnh khắc tâm, xuất hiện rồi lại biến mất trong từng sát na. Khi tâm trở nên yên lặng rồi, nó có thể quán sát dòng tương tục nầy của thức. NộI chiếu vào dòng tương chuyển và vô thường của thức trần, hiểu rằng không có một người biết hay người quan sát, nhưng đúng hơn là một tiến trình liên tục từng giây phút, vạch trần ra ảo giác của một bản ngã cố định.

Thứ ba trong bốn sự thật tối hậu là những nhân tố tâm. Chúng là tính chất tâm cái quyết định thức và đối tượng liên hệ như thế nào. Nhiều sự kết hợp khác nhau trong nhân tố tâm nổi lên với từng sát na của thức và tan biến đi. Tham, sân, si là ba nhân tố tâm, là căn rể cho tất cả những hành động bất thiện. Những bất thiện nghiệp, hay hành động, đều bị thúc đẩy bởi một trong ba gốc rể nầy. Lấy thí dụ, nhân tố tham có tính chất bám giữ vào đối tượng. Khi tham nổi dậy trong thức, nó có ảnh hưởng đến tâm trong trạng thái nắm giữ, chụp lấy, dính mắc. Đó là đặt tính của tâm tham. Nó là vô thường và không bản ngã, không cái tôi; chỉ là nhân tố tâm đang hoạt động theo cách của nó.

Tâm sân có tính chất lên án đối tượng, có ác cảm. Ác cảm, ác ý, bực mình, phát cáu, nóng giận, những thứ nầy là biểu tượng của tâm sân. Sân thì cũng không có tôi, cái tôi, hay của tôi; nó là sự kiện không vửng bền, nổi lên rồi qua đi.

Si là nhân tố có bản năng che lấp tâm để ta không ý thức được đối tượng là gì. Ta lọt vào vô ký, không biết chuyện gì đang xãy ra.

Nhưng cũng có ba căn lành của tâm: không-tham, không-sân, không-si. Không-tham có một bản chất bố thí, không dính mắc, không chiếm giữ. Không sân là tình thương, có cảm tưởng tốt cho mọi chúnh sinh, tình con người. Không si là trí huệ. Trí huệ có chức năng thấy rỏ ràng. Nó như một ngọn đèn trong tâm. Nếu bạn vào một phòng tối, bạn không thể thấy và bạn loạng choạng vấp té trên đồ vật. Nếu thắp lên một ngọn đèn, vậy tất cả đồ đạt được phân biệt rỏ ràng. Đây là chức năng của trí tuệ: soi sáng tâm để ta có thể nhận định cả hai ý nghĩa và hoạt động của thân và tâm ta.

Tất cả những nhân tố tâm nầy là không cá tính khách quan và có tính chất tạm thời. Không có ai tham, không có ai sân, cũng không có ai thông minh, không ai từ thiện. Chỉ là sự trổi dậy và biến đi từng sát na trong thức đồng thời xãy ra vớ những nhân tố cố hữu của tâm, mỗi một tâm hiện hành theo chức năng riêng của chúng. Vậy thì ý niệm của bản ngã đến từ đâu? Tại sao ta lại bị điều kiện hóa nặng nề đến nổi phải tin vào sự hiện hữu của cái “tôi”?

Có một nhân tố tâm được gọi là “tà kiến,” và nó có chức năng đồng hóa với những đổi thay khác nhau của thân và tâm. Khi tà kiến xãy ra trong giây phút tạm thời của thức, khái niệm về bản ngã nổi lên. Nhưng nó cũng thuộc vào vô thường và không cá nhân tính, xuất hiện ở một thời điểm và tan hoại đi. Khi ta có chánh niệm trong từng giây phút, tà kiến không xuất hiện được và thế nên ta giải thoát ta từ điều kiện về “tôi, cái tôi, của tôi.” Từng giây phút chánh niệm là từng giây phút thanh lọc, không vị kỷ, không có cái tôi.

Câu hỏi thường được đặt ra nhiều nhất trong hành thiền là, “Ai đang chánh niệm?” Chánh niệm, cũng vậy, là một nhân tố tâm. Nó có chức năng lưu ý đến đối tượng là gì, nằm ở nơi nhận biết trong hiện tại. Gurdjieff gọi đây là đặc tính phản quan, tự nhớ thân. Chẵng có ai đang chánh niệm, chỉ là bản năng hoạt động của tâm riêng biệt đó: ý thức mà không dính mắc, lên án hay đồng hóa. Như lúc chánh niệm được phát triển, có sự hiểu biết thấu đáo rằng tất cả hiện tượng bị điều kiện hóa chỉ là nhất thời và trống rỗng, không có một bản ngã nào ngự trị trong đó.

Chúng ta giống như là một cái cưa lộng đang cưa theo những nét ngoằn ngoèo phức tạp trên miếng ván. Những mảnh vụn của sự rối rắm là phần vật chất, thức và các tâm sở. Khi những mảnh rời được ráp lại theo phương hướng nhất định ta thấy “đàn ông” hay “đàn bà,” “cây,” “nhà.” Nhưng đó chỉ là những hình ảnh của những mảnh rời được sắp xếp vào nhau, những khái niệm. Nó là nhân tố cơ bản của tâm và thân, những năng lượng nằm lớp dưới trong tình trạng lưu chuyển và thay đổi liên tục, cái cấu tạo ra kinh nghiệm thực tại của ta.

Thực tại tối hậu thứ tư là Niết Bàn. Niết bàn giống như kinh nghiệm một người hoàn toàn tự do từ những xiềng xích gông cùm và hội nhập từ hang núi vào trong ánh sáng, vượt qua khỏi cái diển tiến thân tâm điều kiện hóa nầy vào trong giải thoát.

Tất cả những sự thật tối hậu nầy có thể được cảm nghiệm. Chữ nghĩa ta dùng để diển tả trạng thái nầy cũng chỉ là lối nói cái đơn thuần diển đạt về kinh nghiệm. Hành thiền là phát triển ý thức được chúng mà không qua ngôn từ. Tất cà chúng ta đang trong tình trạng tháo gở gông cùm thoát khỏi hang vô minh. Có khi trong lúc hành tập hình như là không mấy kết quả xãy ra ngoại trừ đau đớn và bồn chồn, trạo cử và nghi ngờ. Nhưng, thật ra mỗi giây phút nhận biết, là mỗi giây phút chánh niệm phá vỡ xiềng xích dính mắc. Ta đang tạo ra ý thức xung lượng đó, và, như chánh niệm và thiền định càng kiên cố hơn, tâm trở nên càng mạnh mẽ và thấu suốt. Một cách kiên nhẫn, ta bắt đầu cảm nghiệm tiến trình của thân và tâm nầy là gì, diển biến mà không khái niệm; thoát khỏi tư tưởng về cái tôi; thể nhập từ nơi tối đen của hang động vào trong ánh sáng chan hòa của giải thoát an lành.

Hỏi: Làm sao mà ta rơi từ thực tại tối hậu đi đến suy nghĩ khái niệm? Tại sao ta bị tuộc dốc quá xa từ tiến trình đơn giản nầy mà mỗi chúng ta đã có thể kinh nghiệm qua?

Đáp: không phải như thể ta rơi từ trạng thái thanh tịnh đến trạng thái vô minh. Vô minh và tham ái là hai nguyên nhân giữ chân ta từ thời vô thủy vô chung: vô minh và tham ái đưa chúng ta đi trong sinh tử luân hồi. Thực tế, cái trong tình trạng bây giờ là những chướng ngại khó khăn ta đang đối diện. Có một lối thoát, có thể loại trừ vô minh và ái dục. Và lối thoát đó được tu niệm bằng cách chú tâm vào những gì đang xãy ra trên mức độ cảm nghiệm được.

Hỏi: Làm sao ta có thể sống trên thế gian nầy mà không có khái niệm?

Xin làm ơn hiểu rằng khái niệm nên được sử dụng. Không phải đã một lần chứng nghiệm được chơn lý là ta quăng hết đi trọn vẹn tiến trình vận năng trí óc. Ta phải dùng biến trình năng trí đó để xử thế một cách thành công trong xả hội, đời sống chúng ta. Có hai chân lý: một là chân lý qui ước cái ta dùng tất cả khái niệm như “đàn ông” và “đàn bà” và “tôi” và “thời gian” và “không gian.” Chơn lý tối hậu có quan hệ đến bốn thực chất y cứ. Ta có thể sử dụng khái niệm mà không là nô lệ của chúng. Ta cũng nên hiểu rằng chúng chỉ là chân lý qui ước và nằm dưới một giá trị cơ bản nào thôi. Tại Bồ Đề Đạo Tràng, Ấn Độ, nơi nhiều người chúng tôi học thiền ở đó, đã có một con voi. Như lúc chúng tôi đi vào thị trấn thì thường gặp con voi kia. Chúng tôi đi rất chậm và chánh niệm. Khi chúng tôi thấy con voi đang trên đường đi tới, chúng tôi đã không đứng ở đó mà nói “thấy, thấy,” mà lập tức tránh đường nhường cho con voi đó. Sử dụng biến trình suy diển khi đúng thời điểm và đúng lúc.

Hỏi: Những xúc cảm là gì?

Xúc cảm là những nhân tố tâm khác nhau. Sân hận, ganh tỵ, từ bi, hỷ lạc và thương yêu là những nhân tố tâm. Mọi xúc cảm đều là đặc tính của tâm, không có cá nhân tính trong đó, tình trạng khách quan. Không có ai đàng sau nó. Chẵng có ai là người đang giận, cũng không ai thương ghét-chỉ đơn giản những nhân tố hoạt động theo bản năng riêng của chúng.

Hỏi: Làm cách nào để đưa đến sự thức tỉnh chánh niệm?

Trí tuệ, cái thấy biết rỏ ràng bản chất bị điều kiện hóa của ta và hiểu được con đường đưa đến giải thoát. Yếu tố cố gắng trở thành nguyên nhân đánh thức chánh niệm. Tự tin cũng có thể là điều kiện khơi dậy động lực chánh niệm.

Hỏi: Ông có thể cho vài lời về tình yêu?

Sự biểu hiện của chơn không là tình yêu, bởi vì chơn không là “không có bản ngã.” Khi không có nhân ngã, thì sở ngã cũng không. Nhị nguyên nhân sở được tạo ra bởi ý niệm tôi, cái tôi, bản ngã. Khi không còn cái tôi, là sự hợp nhất thể hiện, và có sự cảm thông chia sẻ, và vắng đi tư tưởng “tôi yêu người nào,” tình yêu trở thành biểu tượng tự nhiên của nhất thể đó.

Hỏi: Khi ta đang chánh niệm về thức, cái gì đang được chánh niệm?

Chánh niệm là nhân tố tâm có chức năng nhớ được đối tượng là gì, không để tâm bị xao lãng. Có thể chuyển chánh niệm đến soi sáng một đối tượng hoặt chuyển đến thức, cái biết chính bản thân nó. Nói chung nó dể dàng hơn để quán sát đối tượng bởi vì nó là thực chất, có thể cảm giác được. Khi tâm trở nên thật yên lặng bạn cũng có thể quán sát giác biết trổi lên và biến đi. Tại điểm nầy nó trở nên lý thú bởi vì từ đó ta phá vở được sự đồng hóa của ta với thức, với cái biết như là “tôi biết,” một sự đồng hoá vô cùng vi tế. Ta dể rơi vào ý niệm có “ai đó” là người đang quán sát sự kiện. Nhưng thật ra chẵng có “ai” đang quán sát cả. Chỉ có cái biết, trổi dậy và biến mất. thức biết cũng là một biến trình, không trường cửu, không cá nhân tính, không ngã, không tôi.

Hỏi: Trí nhớ là gì? Nó được ăn khớp vào chổ nào?

Trí nhớ là một nhân tố tâm làm việc rất phức tạp, chủ yếu là có liên quan đến tri giác nhận thức. Nhận thức là nhân tố tâm có chức năng nhận ra, chọn lựa phân biệt điểm đặc thù của đối tượng. Qua nhân tố tri giác ta nhận ra kinh nghiệm tâm thức đối tượng mới vừa trải qua đó là gì. Trí nhớ là một loại tư tưởng lấy việc gì đã xãy ra rồi làm đối tượng của nó.

Hỏi: Thái độ khuynh hướng đặc thù cá nhân đến từ đâu?

Sự lập lại thường nhật hay một sinh hoạt nhất định nào tạo ra khuynh hướng đó. Ngay bây giờ ta củng cố thêm chánh niệm, định, và nội quán, phát huy một xung hướng đến trí tuệ và hiểu biết. Vả lại, trong quá khứ, những hành động cố định được lập đi lập lại nhiều lần theo mỗi cá nhân tính, do đó mà tạo nên những cá tính khác biệt, mọi khuynh hướng đều phải có liên hệ đến một sự kiện tác động nào đó. Nhân cách có thể được hiểu trong ý nghĩa của những xu hướng thường còn nầy. Chẵng có gì gọi là cá nhân tính qua những nhân tố tâm thức nào nổi bật nhất lúc đó. Người có xu hướng tham, luôn có hành động bám víu và chấp thủ, dính mắc, quên chánh niệm, tự nhiên nhân tố tham trở nên mạnh mẻ. Chẵng bao lâu, nó hiển bày nhân tố đó trong mọi sinh hoạt của anh ta. Ngược lại, khi những tâm lành đối kháng lại những tâm ác kia được phát triển, nó trở thành khuynh hướng tâm tánh nổi bật và được hiển lộ trong nhân cách.

Hỏi: Nhân tố chọn lựa đến từ đâu?

Chọn lựa là một nhân tố tâm khác. Có một quan hệ nối liền rất phức tạp giửa những nhân tố tâm khác nhau. Nhân tố chọn lựa, nguyên biến trình, sự quyết định, sự dụng công nằm ngay ở đó. Chúng biểu lộ bản chất tự nhiên và chức năng riêng của chúng. Một trong những nguyên nhân gần tạo lập nên chánh niệm là lắng nghe giáo pháp. Đó là yếu tố khiến cho nhân tố dụng công trổi lên. Đức Phật nói rất thường về cách lắng nghe giáo pháp thiện xảo. Nó khơi động nhân tố dụng công để bắt đầu thành lập chánh niệm. Các nhân tố tâm bao gồm “muốn” là tất cả những tiềm tàng trong thức. Ta không phải làm gì để tạo ra những nhân tố đó. chỉ là câu hỏi nhân tố tâm nào nên phát triển. những quyết định chính xác đến từ lắng nghe giáo pháp, hiểu được giáo pháp là gì. Việc đó thúc đẩy sự trổi dậy cố tâm phát triển chánh niệm ngỏ hầu đưa đến tuệ Minh sát. Có một đoạn trong kinh Pháp cú nói, “có hành động mà không có người làm, có sự đau khổ mà không có ai đau khổ, có chứng đắc mà không có người chứng đắc.”

Hỏi: Thông minh là gì?

Thông minh là tần lớp tư tưởng khái niệm của tâm; nó có thể được huấn luyện, huân tập và xử dụng; hay nó cũng có thể là chướng ngại. Tùy thuộc vào cách ta hiểu rỏ ràng biến trình tư tưởng. Nếu có một trí tuệ quán sát rỏ ràng vào trong bản chất thiên nhiên, nó không thể là chướng ngại được. Nếu ta quan niệm sai lầm về sự vật cho sự vật chính nó là thật, vậy nó đưa đến trở ngại trong nhầm lẫn giửa khái niệm và thực tế. Nhưng, trong chính nó, nó cũng chỉ là một phần trong toàn diện tiến trình thân tâm (có, nhưng mà giả có). Tam Tổ Sùng Tín đã nói một câu: “đừng loại bỏ các giác quan và ý niệm thế gian: quả vậy, chấp nhận chúng một cách hoàn toàn là đang đồng nhất với chứng ngộ.”

 

 

Trả lời

Từ điển
Youtube
Live Stream
Tải app