4- Ân-Đức Phật-Bảo Thứ Tư: Sugato

Itipi so Bhagavā Sugato.

(Cách đọc: Í-tí-pí xô Phá-gá-voa Xú-gá-tô)

Nghĩa:

–   So Bhagavā: Đức-Thế-Tôn.

–  Itipi: Do Ngài là Bậc thuyết pháp chân-lý đem lại sự lợi ích thật sự cho chúng-sinh.

–   Sugato: Do đó, Đức-Thế-Tôn có Ân-đức Thiện Ngôn.

Sugato có 4 ý nghĩa

–   Thuyết pháp chân-lý đem lại sự lợi ích cho chúng-sinh.

–   Ngự theo chánh-đạo.

–   Ngự đến Niết-bàn an-lạc tuyệt đối.

–   Ngự đến mục đích cao thượng, bất thoái chí.

Giải thích:

1-    Sugato có ý nghĩa thuyết pháp chân-lý đem lại sự lợi ích cho chúng-sinh như thế nào?

Đức-Thế-Tôn tùy thời thuyết pháp chân-lý chắc chắn đem lại sự lợi ích cho chúng-sinh, nếu không đem lại sự lợi ích thì Đức-Thế-Tôn không thuyết pháp. Đức-Thế- Tôn biết rõ 6 trường hợp, trường hợp nào nên thuyết giảng và trường hợp nào không nên thuyết giảng như sau:

–     Đức-Thế-Tôn biết rõ pháp nào không chân thật, không đem lại sự lợi ích, người nghe không hài lòng, không hoan hỷ. Đức-Phật không thuyết giảng pháp ấy.

–     Đức-Thế-Tôn biết rõ pháp nào không chân thật, không đem lại sự lợi ích, dù người nghe hài lòng, hoan hỷ. Đức-Phật vẫn không thuyết giảng pháp ấy.

–     Đức-Thế-Tôn biết rõ pháp nào chân thật, nhưng không đem lại sự lợi ích, dù người nghe hài lòng, hoan hỷ. Đức-Phật vẫn không thuyết giảng pháp ấy.

–   Đức-Thế-Tôn biết rõ pháp nào chân thật, không đem lại sự lợi ích, người nghe không hài lòng, không hoan hỷ. Đức-Phật không thuyết giảng pháp ấy.

–   Đức-Thế-Tôn biết rõ pháp nào chân thật, đem lại sự lợi ích, người nghe không hài lòng, không hoan hỷ. Đức- Phật biết rõ tùy nơi, đúng lúc sẽ thuyết giảng pháp ấy.

–   Đức-Thế-Tôn biết rõ pháp nào chân thật, đem lại sự lợi ích, người nghe hài lòng, hoan hỷ. Đức-Phật biết rõ tùy nơi, đúng lúc sẽ thuyết giảng pháp ấy.

Cho nên, Đức-Thế-Tôn có ân-đức Sugato với ý nghĩa thuyết pháp chân-lý đem lại sự lợi ích cho chúng-sinh.

2-    Sugato có ý nghĩa ngự theo chánh-đạo như thế nào?

Đức-Thế-Tôn ngự (hành) theo chánh-đạo hợp đủ 8 chánh là:

*    Chánh-kiến: Trí-tuệ chân-chánh là trí-tuệ thiền-tuệ chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế.

*   Chánh-tư-duy: Tư-duy chân-chánh là:

–   Tư-duy thoát khỏi ngũ-dục,

–   Tư-duy không thù oán,

–   Tư-duy không hại chúng-sinh.

*   Chánh-ngữ: Lời nói chân-chánh là:

–   Không nói dối,

–   Không nói lời đâm thọc chia rẽ,

–   Không nói lời thô tục,

–   Không nói lời vô ích.

*   Chánh-nghiệp: Hành nghiệp chân-chánh là:

–   Không sát sanh,

–   Không trộm cắp,

–   Không tà dâm.

* Chánh-mạng: Nuôi mạng chân-chánh là không sống theo tà mạng do thân hành ác, khẩu nói ác.

*   Chánh-tinh-tấn: Tinh-tấn chân-chánh đó là:

–   Tinh-tấn ngăn ác-pháp chưa sinh, không cho sinh.

–   Tinh-tấn diệt ác-pháp đã sinh.

–   Tinh-tấn làm cho thiện-pháp chưa sinh, được sinh.

–   Tinh-tấn làm cho tăng trưởng thiện-pháp đã sinh.

* Chánh-niệm: Niệm chân-chánh là:

–   Niệm thân, thân là đối-tượng của chánh-niệm…

–   Niệm thọ, thọ là đối-tượng của chánh-niệm…

–   Niệm tâm, tâm là đối-tượng của chánh-niệm…

–   Niệm pháp, pháp là đối-tượng của chánh-niệm…

*     Chánh-định: Định chân-chánh là định-tâm trong các bậc thiền siêu-tam-giới có Niết-bàn làm đối-tượng:

–   Định trong đệ nhất thiền siêu-tam-giới,

–   Định trong đệ nhị thiền siêu-tam-giới,

–   Định trong đệ tam thiền siêu-tam-giới,

–   Định trong đệ tứ thiền siêu-tam-giới,

–   Định trong đệ ngũ thiền siêu-tam-giới.

Chánh-đạo hợp đủ 8 chánh này đồng sinh trong Thánh-đạo-tâm, Thánh-quả-tâm, có Niết-bàn làm đối-tượng.

Cho nên, Đức-Thế-Tôn có ân-đức Sugato với ý nghĩa ngự theo chánh-đạo.

3-    Sugato có ý nghĩa ngự đến Niết-bàn an-lạc tuyệt đối như thế nào?

Đức-Thế-Tôn là Bậc đầu tiên chứng ngộ Niết-bàn bằng trí-tuệ-thiền-tuệ siêu-tam-giới đó là: 4 Thánh-đạo- tuệ, 4 Thánh-quả-tuệ, nên Đức-Thế-Tôn có ân-đức Sugato với ý nghĩa ngự đến Niết-bàn an-lạc tuyệt đối.

Về sau, Đức-Thế-Tôn thuyết pháp tế độ các hàng đệ- tử cũng chứng ngộ Niết-bàn cũng bằng Thánh-đạo-tuệ, Thánh-quả-tuệ, nhưng những bậc Thánh thanh-văn đệ- tử này không có ân-đức Sugato như Đức-Thế-Tôn, vì không phải bậc đầu tiên chứng ngộ Niết-bàn.

Cho nên, Đức-Thế-Tôn mới có ân-đức Sugato với ý nghĩa ngự đến Niết-bàn an-lạc tuyệt đối mà thôi.

4-    Sugato có ý nghĩa ngự đến mục đích cao thượng, bất thoái chí như thế nào?

Đức-Bồ-tát Đạo-sĩ Sumedha, tiền-kiếp của Đức-Phật Gotama, có ý nguyện muốn trở thành Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác. Lần đầu tiên, Đức-Bồ-tát Đạo-sĩ Sumedha được Đức-Phật Dīpaṅkara thọ ký xác định thời gian còn 4 a-tăng-kỳ và 100 ngàn đại-kiếp nữa, sẽ trở thành Đức- Phật Chánh-Đẳng-Giác, có danh hiệu Đức-Phật Gotama.

Từ đó, Đức-Bồ-tát trở thành Đức-Bồ-tát cố-định tiếp tục thực-hành cho đầy đủ 30 pháp-hạnh ba-la-mật: 10 pháp-hạnh ba-la-mật bậc hạ, 10 pháp-hạnh ba-la-mật bậc trung và 10 pháp-hạnh ba-la-mật bậc thượng, suốt khoảng thời gian 4 a-tăng-kỳ và 100 ngàn đại-kiếp trái đất một cách bất thoái chí.

Đến kiếp chót, Đức-Bồ-tát Siddhattha từ bỏ ngai vàng, đi xuất gia đã chứng đắc thành Đức-Phật Chánh- Đẳng-Giác, có danh hiệu Đức-Phật Gotama.

Cho nên, Đức-Thế-Tôn có ân-đức Sugato với ý nghĩa ngự đến mục đích cao thượng bất thoái chí.

Ân-đức Sugato có 4 ý nghĩa tóm tắt này, đặc biệt đáng ghi nhớ ý nghĩa ân-đức Sugato là Đức-Thế-Tôn thuyết pháp chân-lý đem lại sự lợi ích cho chúng-sinh

Niệm Ân-Đức Sugato

Các hàng thanh-văn đệ-tử thường niệm tưởng đến ân- đức Phật-bảo, niệm “ân-đức Sugato” này, sẽ phát sinh đức-tin trong sạch nơi Đức-Thế-Tôn, có trí-tuệ sáng suốt, phát sinh hỷ lạc, tăng trưởng lòng tôn kính nơi Đức-Thế- Tôn, có lòng dũng cảm, tránh khỏi mọi điều tai họa, phước-thiện được tăng trưởng.

Hành-giả thực-hành đề-mục niệm-niệm ân-đức Phật- bảo, niệm ân-đức Sugato như sau:

Câu ân-đức Sugato rằng: “Itipi so Bhagavā Sugato,… Itipi so Bhagavā Sugato, … Itipi so Bhagavā Sugato, …” làm đối-tượng thiền-định.

Hoặc danh từ ân-đức Sugato rằng: “Sugato, … Sugato, … Sugato, …” làm đối-tượng thiền-định.

Đề-mục thiền-định niệm ân-đức Phật-bảo, niệm ân- đức Sugato này có ý nghĩa vô cùng sâu sắc, vi-tế, rộng lớn vô lượng vô biên. Vì vậy, định-tâm không thể an định vào một pháp nào nhất định làm đối-tượng được, nên chỉ có khả năng dẫn đến chứng đạt cận-định (upacārasamādhi) mà thôi, không có khả năng chứng đạt đến an-định (appanāsamādhi), nên không thể chứng đắc được bậc thiền sắc-giới nào.

Như vậy, tâm cận-định này vẫn còn trong dục-giới thiện-tâm.

(Phần còn lại giống như Ân-đức Arahaṃ)

5- Ân-Đức Phật-Bảo Thứ Năm: Lokavidū

Itipi so Bhagavā Lokavidū.

(Cách đọc: Í-tí-pí xô Phá-gá-voa Lô-ká-ví-đu).

Nghĩa:

–   So Bhagavā: Đức-Thế-Tôn.

–    Itipi: Do Ngài là Bậc thấy rõ, biết rõ tổng các loài chúng-sinh, tổng các cõi thế giới chúng-sinh, tổng các pháp-hành.

–    Lokavidū: Do đó, Đức-Thế-Tôn có ân-đức Thông- Suốt Tam-Tổng-Pháp.

*    Loka là các pháp có sự sinh, sự diệt, sự thành, sự hoại, … ngũ-uẩn của mình gọi là loka.

Tam-tổng-pháp có 3 loại

1-   Tổng các loài chúng-sinh (sattaloka).

2-   Tổng các cõi thế giới chúng-sinh (okāsaloka).

3- Tổng các pháp-hành (saṅkhāraloka).

Đức-Thế-Tôn có 2 loại trí-tuệ đặc biệt mà Chư Phật Độc-Giác và bậc Thánh thanh-văn không có là:

Indriyaparopariyattañāṇa: Trí-tuệ thấy rõ, biết rõ căn duyên cao thấp của mỗi chúng-sinh.

–  Āsayānusayañāṇa:Trí-tuệ thấy rõ, biết rõ phiền-não ngấm ngầm, thiện-nghiệp, ác-nghiệp của mỗi chúng-sinh.

Cho nên, Đức-Thế-Tôn có khả năng đặc biệt thông suốt tam-tổng-pháp.

1-   Thế nào gọi là tổng các loài chúng-sinh?

Chúng-sinh thế giới có nhiều loại.

Về nơi sinh có 4 loại

–     Thai-sinh: Chúng-sinh sinh từ bụng mẹ như loài người, voi, ngựa, trâu, bò, …

–   Noãn-sinh: Chúng-sinh sinh từ trứng như gà, vịt, chim,..

–   Thấp-sinh: Chúng-sinh sinh từ nơi ẩm thấp như con dòi, con giun,…

–   Hóa-sinh: Chúng-sinh sinh hiện hữu ngay tức thì như chư-thiên, phạm-thiên, loài ngạ-quỷ, a-su-ra, chúng-sinh địa-ngục, con người đầu tiên xuất hiện trên trái đất này.

Về uẩn có 3 loại

–    Chúng-sinh có ngũ-uẩn (sắc-uẩn, thọ-uẩn, tưởng- uẩn, hành-uẩn và thức-uẩn) trong 11 cõi dục-giới và 15 cõi sắc-giới.

–   Chúng-sinh có tứ-uẩn (thọ-uẩn, tưởng-uẩn, hành-uẩn và thức-uẩn không có sắc-uẩn) trong 4 cõi vô-sắc-giới.

–    Chúng-sinh có nhất-uẩn là sắc-uẩn (không có 4 danh-uẩn) trong cõi sắc-giới Vô-tưởng-thiên.

Đức-Thế-Tôn biết rõ tất cả mọi loài chúng-sinh có căn duyên cao hoặc thấp, có phiền-não ngấm ngầm nặng hoặc nhẹ, có bản tánh riêng của mỗi chúng-sinh, có nguyện vọng cao quý hoặc thấp hèn, có 5 pháp-chủ (indriya) tín pháp-chủ, tấn pháp-chủ, niệm pháp-chủ, định pháp-chủ, tuệ pháp-chủ già dặn hoặc còn non nớt.

Chúng-sinh có khả năng chứng đắc Thánh-đạo, Thánh-quả trong kiếp hiện-tại, hoặc kiếp vị-lai sẽ chứng đắc thành Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác, Đức-Phật Độc- Giác, hoặc bậc Thánh thanh-văn-giác, …

Chúng-sinh không có khả năng chứng đắc Thánh-đạo, Thánh-quả trong kiếp hiện-tại, bởi do nguyên nhân nào. Đức-Thế-Tôn thấy rõ, biết rõ thông suốt tất cả các loài chúng-sinh không còn dư sót.

2-   Thế nào gọi là tổng các cõi thế giới chúng-sinh ?

Cõi thế giới là nơi tạm trú của tất cả các loài chúng- sinh hiện-hữu, tùy theo thiện-nghiệp, ác-nghiệp cho quả và hỗ trợ chúng-sinh.

Tam-Giới

Tam-giới là 3 cõi giới, nơi sinh của các loài chúng- sinh gồm có 31 cõi như sau: dục-giới có 11 cõi, sắc-giới có 16 cõi, vô-sắc-giới có 4 cõi.

11 Cõi Dục-giới

*   4 cõi ác-giới

–   Cõi địa-ngục: Chúng-sinh có tuổi thọ không nhất định.

–   Cõi a-su-ra: Chúng-sinh có tuổi thọ không nhất định.

–   Loại ngạ-quỷ: Chúng-sinh có tuổi thọ không nhất định.

–   Loài súc-sinh: Chúng-sinh có tuổi thọ không nhất định.

*   7 cõi thiện dục-giới

–   Cõi người: Con người có tuổi thọ không nhất định.

Cõi Tứ-đại-thiên-vương: Chư-thiên có tuổi thọ 500 tuổi trời, bằng 9 triệu năm cõi người (bởi 1 ngày 1 đêm ở cõi trời này bằng 50 năm cõi người).

–  Cõi Tam-thập-tam-thiên: Chư-thiên có tuổi thọ

1.000 tuổi trời, bằng 36 triệu năm cõi người (bởi 1 ngày 1 đêm ở cõi trời này bằng 100 năm cõi người).

Cõi Dạ-ma-thiên: Chư-thiên có tuổi thọ 2.000 tuổi trời, bằng 144 triệu năm cõi người (bởi 1 ngày 1 đêm ở cõi trời này bằng 200 năm cõi người).

–  Cõi Đâu-suất đà-thiên: Chư-thiên có tuổi thọ 4.000 tuổi trời, bằng 576 triệu năm cõi người (bởi 1 ngày 1 đêm ở cõi trời này bằng 400 năm cõi người).

–  Cõi Hóa-lạc-thiên: Chư-thiên có tuổi thọ 8.000 tuổi trời, bằng 2.304 triệu năm cõi người (bởi 1 ngày 1 đêm ở cõi trời này bằng 800 năm cõi người).

–  Cõi Tha-hóa-tự-tại-thiên: Chư-thiên có tuổi thọ 16.00         tuổi trời, bằng 9.216 triệu năm cõi người (bởi 1 ngày 1 đêm ở cõi trời này bằng 1.600 năm cõi người).

16 Cõi Sắc-giới Phạm-thiên

* Đệ nhất thiền sắc-giới có 3 cõi

–   Cõi Phạm-chúng-thiên: Phạm-thiên có tuổi thọ 1/3 a-tăng-kỳ kiếp trụ(1).

–   Cõi Phạm-phụ-thiên: Phạm-thiên có tuổi thọ 1/2 a- tăng-kỳ kiếp trụ.

–   Cõi Đại-phạm-thiên: Phạm-thiên có tuổi thọ 1 a- tăng-kỳ kiếp trụ.

* Đệ nhị thiền sắc-giới có 3 cõi

–   Cõi Thiểu-quang-thiên: Phạm-thiên có tuổi thọ 2 đại-kiếp(2).

–   Cõi Vô-lượng-quang-thiên: Phạm-thiên có tuổi thọ 4 đại-kiếp.

–   Cõi Quang-âm-thiên: Phạm-thiên có tuổi thọ 8 đại-kiếp.

* Đệ tam thiền sắc-giới có 3 cõi

–   Cõi Thiểu-tịnh-thiên: Phạm-thiên có tuổi thọ 16 đại-kiếp.

–  Cõi Vô-lượng-tịnh-thiên: Phạm-thiên có tuổi thọ 32 đại-kiếp.

–   Cõi Biến-tịnh-thiên: Phạm-thiên có tuổi thọ 64 đại-kiếp.

* Đệ tứ thiền sắc-giới có 7 cõi

–   Cõi Quảng-quả-thiên: Phạm-thiên có tuổi thọ 500 đại-kiếp.

–   Cõi Vô-tưởng-thiên: Phạm-thiên có tuổi thọ 500 đại-kiếp.

–  Cõi Tịnh-cư-thiên: Có 5 cõi dành riêng cho Phạm-thiên bậc Thánh Bất-lai chứng đắc đệ tứ thiền sắc-giới:

–   Cõi Vô-phiền-thiên: Phạm-thiên có tuổi thọ 1.000 đại-kiếp.

–   Cõi Vô-nhiệt-thiên: Phạm-thiên có tuổi thọ 2.000 đại-kiếp.

–   Cõi Thiện-hiện-thiên: Phạm-thiên có tuổi thọ 4.000 đại-kiếp.

–   Cõi Thiện-kiến-thiên: Phạm-thiên có tuổi thọ 8.000 đại-kiếp. 

–   Cõi Sắc-cứu-cánh-thiên: Phạm-thiên có tuổi thọ 16.000 đại-kiếp.

4 Cõi Vô-sắc-giới Phạm-thiên

–   Không-vô-biên-xứ-thiên: Phạm-thiên có tuổi thọ 20.000 đại-kiếp.

–   Thức-vô-biên-xứ-thiên: Phạm-thiên có tuổi thọ 40.000 đại-kiếp.

–   Vô-sở-hữu-xứ-thiên: Phạm-thiên có tuổi thọ 60.000 đại-kiếp.

–    Phi-tưởng-phi-phi-tưởng-xứ-thiên: Phạm-thiên có tuổi thọ 84.000 đại-kiếp.

–   1 tam-giới gồm có 31 cõi.

–   1 tiểu-thế-giới có 31.000 cõi.

–   1 trung-thế-giới gồm có 31 triệu cõi.

–   1 đại-thế-giới gồm có 31 triệu triệu cõi (31.000 tỷ cõi)

Đức-Thế-Tôn không những thông suốt 31.000 tỉ cõi mà còn thông suốt vô số cõi thế giới (anantacakkavāḷa).

3-   Thế nào gọi là tổng các pháp-hành?

Tổng các pháp-hành là ngũ-uẩn do nhân-duyên cấu tạo, nên có sự sinh, sự diệt. Tổng các loài chúng-sinh và tổng các cõi thế-giới chúng-sinh thuộc về chế-định-pháp (paññattidhamma), còn tổng các pháp-hành thuộc về chân-nghĩa-pháp (paramatthadhamma).

Đức-Thế-Tôn thông suốt tổng các pháp-hành có nhiều loại như sau:

–   Pháp-hành có 1 pháp: tất cả chúng-sinh được tồn tại do nhờ nhân (āhāra).

–   Pháp-hành có 2 pháp: danh-pháp và sắc-pháp.

–   Pháp-hành có 3 thọ: thọ khổ, thọ lạc, thọ xả.

–   Pháp-hành có 4 pháp: vật thực, xúc, tác-ý, tâm.

–  Pháp-hành có 5 uẩn: sắc-uẩn, thọ-uẩn, tưởng-uẩn, hành-uẩn và thức-uẩn.

Pháp-hành có 6 xứ bên trong: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; và có 6 xứ bên ngoài: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, v.v…

Đức-Thế-Tôn thông suốt vô số pháp-hành, bắt nguồn từ ngũ-uẩn của Đức-Thế-Tôn.

Cho nên, Đức-Thế-Tôn có ân-đức Lokavidū: Đức- Thông-Suốt Tam-Tổng-Pháp.

Niệm Ân-Đức Lokavidū

Các hàng thanh-văn đệ-tử thường niệm tưởng đến ân- đức Phật-bảo, niệm“ân-đức Lokavidū” này, sẽ phát sinh đức-tin trong sạch nơi Đức-Thế-Tôn, có trí-tuệ sáng suốt, phát sinh hỷ lạc, tăng trưởng lòng tôn kính nơi Đức-Thế- Tôn, có lòng dũng cảm, tránh khỏi mọi điều tai họa, phước-thiện được tăng trưởng.

Hành-giả thực-hành đề-mục niệm-niệm ân-đức Phật- bảo, niệm ân-đức Lokavidū như sau:

Câu ân-đức Lokavidū rằng: “Itipi so Bhagavā Lokavidū, … Itipi so Bhagavā Lokavidū, … Itipi so Bhagavā Lokavidū, …” làm đối-tượng thiền-định.

Hoặc danh từ ân-đức Lokavidū rằng: “Lokavidū, … Lokavidū, … Lokavidū, …” làm đối-tượng thiền-định.

Đề-mục thiền-định niệm-niệm ân-đức Phật-bảo, niệm ân-đức Lokavidū này có ý nghĩa vô cùng sâu sắc, vi-tế, rộng lớn vô lượng vô biên. Vì vậy, định-tâm không thể an-định vào một pháp nào nhất định làm đối-tượng được, nên chỉ có khả năng dẫn đến chứng đạt cận-định (upacārasamādhi) mà thôi, không có khả năng chứng đạt đến an-định (appanāsamādhi), nên không thể chứng đắc được bậc thiền sắc-giới nào.

Như vậy, tâm cận-định này vẫn còn trong dục-giới thiện-tâm.

(Phần còn lại giống như ân-đức Arahaṃ)

6- Ân-Đức Phật-Bảo Thứ Sáu: Anuttaro purisadammasārathi

Itipi so Bhagavā Anuttaro purisadammasārathi.

(Cách đọc: Í-tí-pí xô Phá-gá-voa Á-nút-tá-rô pú-rí-xá-đăm-má- xa-rá-thí).

Nghĩa:

–   So Bhagavā: Đức-Thế-Tôn.

–    Itipi: Do Ngài là Bậc giáo huấn chúng-sinh cải tà quy chánh, cải ác làm thiện, từ hạng phàm-nhân lên bậc Thánh-nhân.

–   Anuttaro purisadammasārathi: Do đó, Đức-Thế-Tôn có ân-đức Vô-Thượng Giáo-Hóa chúng-sinh.

Giáo hóa người ác trở thành bậc Thánh-nhân

Kẻ cướp sát nhân, cắt ngón tay xâu thành vòng đeo ở cổ, có biệt danh Aṅgulimāla. Y có võ nghệ cao cường, sống một mình ở trong rừng, từng đoàn người 20 – 30 người đi qua khu rừng ấy, không một ai thoát chết.

Một hôm, Đức-Thế-Tôn một mình đi vào rừng, nơi ẩn náu của Aṅgulimāla, để giáo hóa y. Y thức tỉnh, từ bỏ sát nhân, xin xuất gia trở thành tỳ-khưu nơi Đức-Phật.

Về sau không lâu, tỳ-khưu Aṅgulimāla thực-hành pháp-hành thiền-tuệ dẫn đến chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả, Niết- bàn, trở thành bậc Thánh A-ra-hán cao thượng.

Giáo hóa dạ xoa ác trở thành bậc Thánh-nhân

Tích Dạ-xoa Āḷavaka ăn thịt người rất hung ác, tàn bạo, có nhiều phép mầu cực kỳ nguy hiểm.

Một hôm, biết Dạ-xoa Āḷavaka đi vắng, Đức-Thế-Tôn ngự đến ngồi trên bảo tọa trong lâu đài của y. Nghe tin Đức-Thế-Tôn ngự trên bảo toạ của y, Dạ-xoa Āḷavaka nổi cơn giận dữ, vô cùng bực tức, liền trở về ngay, y dùng mọi phép mầu cực kỳ nguy hiểm, để xua đuổi Đức- Thế-Tôn bước xuống bảo toạ, rời khỏi cung điện của y ngay tức khắc, nhưng y hoàn toàn bất lực, không xua đuổi Đức-Thế-Tôn được.

Cuối cùng, có một bài kệ khó mà y quên câu giải đáp, y đã hỏi nhiều Sa-môn, Bà-la-môn mà không một ai có thể giải đáp đúng, để làm cho y hài lòng.

Nay, y đem bài kệ ấy đặt điều kiện, nếu Đức-Thế-Tôn không giải đáp đúng thì phải rời khỏi lâu đài của y ngay. Đức-Thế-Tôn ngự đến cốt để giải đáp bài kệ ấy, và tế độ Dạ-xoa Āḷavaka. Cho nên, sau khi Dạ-xoa Āḷavaka hỏi câu kệ xong, Đức-Thế-Tôn giải đáp đúng ý nghĩa sâu sắc của câu kệ ấy làm cho Dạ-xoa Āḷavaka vô cùng hoan hỷ, ngay khi ấy, Dạ-xoa Āḷavaka chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế, chứng đắc Nhập-lưu Thánh-đạo, Nhập-lưu Thánh-quả, trở thành bậc Thánh Nhập-lưu, có đức-tin trong sạch và không lay chuyển trong Phật-giáo.

Giáo hóa phạm-thiên tà-kiến trở thành chánh-kiến

Phạm-thiên Baka ở tầng trời sắc-giới Quang-âm- thiên phát sinh thường-kiến mê lầm. Đức-Thế-Tôn từ ngôi chùa Jetavana, xuất hiện lên cõi trời sắc-giới, để tế độ phạm-thiên Baka từ bỏ tà kiến trở lại chánh-kiến, …

Giáo hóa loài súc-sinh

Đức-Thế-Tôn giáo hóa các loài súc-sinh như rồng chúa Apalāla, rồng chúa Cūḷodara, rồng chúa Mahodara, … trở thành rồng hiền lành.

Voi chúa Nālāgiri rất hung dữ, trong cơn say, chạy đến để hại, Đức-Thế-Tôn rải tâm từ đến voi chúa, ngay tức khắc voi chúa tỉnh lại, bò đến quỳ mọp xuống hai bàn chân của Đức-Thế-Tôn, Ngài giáo hóa voi chúa hung dữ này trở thành voi hiền lành, biết quy-y Tam- bảo, thọ trì ngũ-giới.

Kể từ đó về sau, voi chúa rất hiền lành dễ thương, Đức-Thế-Tôn đặt tên là voi chúa Dhanapāla(1), …

Đức-Thế-Tôn giáo hóa tế độ chúng-sinh hữu duyên nên tế độ, nghĩa là những chúng-sinh ấy tiền-kiếp có liên quan với Đức-Phật, hoặc tiền-kiếp đã từng gieo duyên lành nơi Chư Phật trong quá-khứ, hoặc đã từng tạo ba- la-mật, gieo phước duyên trong giáo-pháp của Chư Phật quá-khứ ấy.

Nay kiếp hiện-tại, có phước duyên được Đức-Thế-Tôn quan tâm đến, để giáo hóa tế độ chúng-sinh ấy.

Đức-Thế-Tôn giáo hóa những chúng-sinh mà không có một ai có thể giáo hóa tế độ được, không có một vị nào có thể sánh được với Đức-Phật.

Cho nên, Đức-Thế-Tôn có ân-đức Anuttaro purisa- dammasārathi: Đức-Vô-Thượng Giáo-Hóa chúng-sinh.

* Riêng ân-đức Phật-bảo Anuttaro purisadam- masārathi: Trong bộ Thanh-Tịnh-Đạo, phần giảng dạy Ân-đức Phật-bảo, Ân-đức Anuttaro purisadammasārathi này phân chia làm 2 ân-đức riêng biệt.

–   Anuttaro: Đức Vô-Thượng.

–   Purisadammasārathi: Đức Giáo-Hóa chúng-sinh.

Giải thích:

1-   Ân-đức Anuttaro: Đức Vô-Thượng như thế nào?

Đức-Thế-Tôn có giới-đức trong sạch thanh-tịnh, không một ai trong toàn tam-giới hơn Ngài. Cũng như vậy,

–   Có định-đức trong sạch thanh-tịnh …

–   Có tuệ-đức trong sạch thanh-tịnh …

–   Có giải-thoát-đức trong sạch thanh-tịnh …

–   Có giải-thoát-tri-kiến-đức trong sạch thanh-tịnh không một ai trong toàn tam-giới hơn Đức-Phật.

Cho nên, Đức-Thế-Tôn có ân-đức Anuttaro: Đức Vô-Thượng.

2-   Ân-đức Purisadammasārathi: Đức Giáo-Hóa chúng- sinh như thế nào?

Đức-Thế-Tôn giáo hóa các loài chúng-sinh có duyên lành, mà không có một ai trong toàn tam-giới chúng-sinh có khả năng giáo hóa tế độ chúng-sinh như Đức-Phật.

Cho nên, Đức-Thế-Tôn có ân-đức Purisadammasārathi: Đức Giáo-Hóa chúng-sinh.

Niệm ân-đức Anuttaro Purisadammasārathi

Các hàng thanh-văn đệ-tử thường niệm tưởng đến ân- đức Phật-bảo, niệm “ân-đức Anuttaro purisadamma- sārathi,” này sẽ phát sinh đức-tin trong sạch nơi Đức-Thế- Tôn, có trí-tuệ sáng suốt, phát sinh hỷ lạc, tăng trưởng lòng tôn kính nơi Đức-Thế-Tôn, có lòng dũng cảm, tránh khỏi mọi điều tai họa, phước-thiện được tăng trưởng.

Hành-giả thực-hành đề-mục niệm-niệm ân-đức Phật- bảo, niệm ân-đức Anuttaro purisadammasārathi như sau:

Câu ân-đức Anuttaro purisadammasārathi rằng: “Itipi so Bhagavā Anuttaro purisadammasārathi, …” làm đối-tượng thiền-định.

Hoặc danh từ Ân-đức Anuttaro purisadammasārathi rằng: “Anuttaro purisadammasārathi, …” làm đối-tượng- thiền-định.

Đề-mục thiền-định niệm-niệm ân-đức Phật-bảo, niệm ân-đức Anuttaro purisadammasārathi này có ý nghĩa vô cùng sâu sắc, vi-tế, rộng lớn vô lượng vô biên. Vì vậy, định-tâm không thể an định vào một pháp nào nhất định làm đối-tượng được, nên chỉ có khả năng dẫn đến chứng đạt cận-định (upacārasamādhi) mà thôi, không có khả năng chứng đạt đến an-định (appanāsamādhi), nên không thể chứng đắc được bậc thiền sắc-giới nào.

Như vậy, tâm cận-định này vẫn còn trong dục-giới thiện-tâm.

(Phần còn lại giống như Ân-đức Arahaṃ)

Bình Luận Facebook
Các bài viết trong sách

Dhamma Paññā

BQT trang Theravāda cố gắng sưu tầm thông tin tài liệu Dhamma trợ duyên quý độc giả tìm hiểu về Dhamma - Giáo Pháp Bậc Giác Ngộ thuyết giảng suốt 45 năm sau khi Ngài chứng đắc trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Chánh Giác vào đêm Rằm tháng 4, tìm hiểu thêm phương pháp thực hành thiền Anapana, thiền Vipassana qua các tài liệu, bài giảng, pháp thoại từ các Thiền Sư, các Bậc Trưởng Lão, Bậc Thiện Trí.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *