BÀI GIẢNG KINH TƯƠNG ƯNG TẬP 1 – CHƯƠNG 1: TƯƠNG ƯNG CHƯ THIÊN – PHẨM QUẦN TIÊN

Bài giảng Kinh Tương Ưng Tập 1

Chương 1: Tương Ưng Chư Thiên

Phẩm Quần Tiên

CHÚNG KHÔNG PHẢI (Nasantisutta)

Tựa kinh này trong tiếng Phạn là chữ Nasanti, chúng tôi đã đối chiếu bản tiếng Đức lẫn tiếng Anh thì chữ Nasanti ở đây không nên dịch là “Chúng Không Phải”, mà phải dịch là Không Hề Có, hoặc Không Từng Tồn Tại. Căn cứ vào bản chánh văn Pāḷi sẽ thấy chữ Na santilà hai chữ bắt đầu cho một bài kệ:

‘‘Na santi kāmā manujesu niccā,

Santīdha kamanīyāni yesu baddho;

Nghĩa là trong đời này không tồn tại một thứ dục nào, thứ khoái lạc nào vĩnh hằng hết (‘Manujesu’: giữa ‘loài người’ ‘chúng sinh’); Santīdha kamanīyāni, mà chỉ có khả ái thôi, có những cái để cho mình thích thương mến chuộng. PG không phủ nhận hạnh phúc nhân gian, không phủ nhận hoa hồng hay nụ cười, nhưng PG nói rõ rằng có hoa hồng và có gai góc, có giọt lệ và có nụ cười. Sở dĩ Đức Phật kêu gọi mình lên đường thực hiện hành trình giải thoát là bởi vì mọi thứ ở đời dầu ngọt ngào cay đắng đến mấy đi nữa cũng có lúc tiêu mất, băng hoại, không tiếp tục tồn tại nữa, chớ PG không hề phủ nhận sự có mặt của hạnh phúc, sự ngọt ngào của đời sống. Có hết, nhưng không có gì bền vững, vĩnh hằng. Na santi nghĩa là không hề có, không từng có. (There are no)

HIỀM TRÁCH THIÊN.

(Ujjhānasaññisutta)

Một thời Thế Tôn ở chùa Kỳ Viên sau khi đêm gần mãn có nhiều vị tiên xuất hiện, các vị Một thời Thế Tôn ở chùa Kỳ Viên sau khi đêm gần mãn có nhiều vị tiên xuất hiện, các vị đứng giữa hư không nhìn xuống và đọc một bài kệ:

Những ai nói mình khác

Với điều họ thực có,

Thời mọi vật thọ dụng,

Xem như do trộm cắp,

Chẳng khác kẻ gian manh,

Dùng lừa đảo trộm cắp.

Hãy nói điều có làm,

Không nói điều không làm,

Không làm nói có làm,

Kẻ trí biết rõ họ.

Ở những bài kinh trước, hầu hết các vị Trời xuất hiện như vậy khi đến hầu Phật thì họ đảnh lễ, nghe pháp, nhưng những vị này không như vậy, họ đứng trên hư không và đọc bài kệ. Chú giải cho biết tại sao như vậy, họ không đảnh lễ Ngài và còn đi nói một câu kệ rõ ràng có ý giống như hơi phạm thượng với Đức Phật. Ngày nay có rất nhiều người bình thường không đi chùa nhưng họ chờ đợi trong tăng ni chùa chiền có gì kỳ cục họ ra sức dè bỉu bôi bác công kích đủ điều, tại sao ông sư thế này thế kia v.v… y như họ là Phật tử thân thiết với chùa miểu tăng ni. Trường hợp này cũng vậy, trong sớ giải nói rằng có một số vị Trời cảm thấy rất là khó chịu và không hiểu được tại sao Thế Tôn lúc nào cũng một mực kêu gọi tán thán khích lệ các đệ tử phải sống đơn giản đạm bạc, sống như là vô sản, nhưng Ngài thì thường nhận thức ăn, y áo rất là sang trọng, quí hiếm từ các thí chủ. Đức Thế Tôn từ lúc thành đạo đến khi Niết bàn là 45 năm, trong khi ở chùa Kỳ Viên của ông Cấp Cô Độc 19 năm, một quãng thời gian gần một nửa cuộc đời của một vị Phật là ở tại chùa Kỳ Viên, mà trong Kinh Bổn Sinh giải thích rõ cổng chùa Kỳ Viên to đến mức có nhiều người đến tưởng bên trong cổng có người ở thật ra đó chỉ là cổng trang trí lối vô chùa. Căn phòng của Đức Phật do ông Cấp Cô Độc cúng dường gọi là gandha-kuti (‘gandha’: ‘mùi thơm’, ‘kuti’: ‘am thất’), HT Minh Châu dịch là ‘hương thất’. Bởi vì từng viên gạch, từng miếng vữa đều được ướp tẩm các loại hương liệu rất thơm trước khi đưa vào xây dựng nên căn phòng có mùi thơm tự nhiên không cần phải đốt trầm hoặc xông hương hoặc nhờ đến các mùi thơm của hoa. Những vị Trời đó khó chịu cũng có lý vì thấy Đức Phật có đời sống vật chất rất phong phú nên họ nghĩ vì sao một người nói một đường làm một nẻo, kêu gọi người ta sống thế này mà mình sống như thế kia. Đức Phật trả lời:

“Những ai chỉ biết nói,

Hay chỉ biết nghe thôi,

Những hạng người như vậy,

Không thể nào tiến bộ.”

Ngài muốn nói rằng dư luận hay tiếng đời tối thiểu là do hai nguồn: 1/ người nói, 2/người nghe. Nếu thiếu một trong hai thì không thể gọi là tiếng đời hay dư luận, phải có người chịu nói phải có người chịu nghe. Ngài nói rằng nếu sống ở đời mà chỉ biết làm người phát biểu hoặc chỉ biết nghe một chiều thì làm sao có thể đi xa lên cao được, trên hành trình phát triển tâm linh được. Với cách nghĩ suy tư nghèo túng như vậy, chỉ biết nghe mà không điều tra không tìm hiểu thì làm sao có thể dễ dàng đi đứng trên con đường giải thoát được. Bậc thánh thì không như vậy. Sau khi nghe Đức Phật nói như vậy các vị Trời lờ mờ hiểu ra rằng mình hố, các vị ấy nhớ lại rằng chúng ta đến đây mà chưa đảnh lễ Thế Tônnên các vị từ trên hư không bước xuống đảnh lễ dưới chân Đức Phật. “4) Rồi các quần tiên ấy đứng xuống đất, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, và bạch Thế Tôn: – Ðây là tội lỗi của chúng con, bạch Thế Tôn. Chúng con đi đến tội lỗi, vì ngu xuẩn, vì mê mờ, vì bất thiện. Chúng con nghĩ chúng con có thể công kích Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn chấp nhận cho chúng con, lỗi lầm là lỗi lầm để gìn giữ trong tương lai.”

“5) Rồi Thế Tôn mỉm cười.” Khi người ta xin lỗi, Ngài không nói gì hết mà chỉ mỉm cười, và các vị tiên đó bực mình. Một vị bay lên hư không và nói: Người ta đã xin lỗi mình mà mình lại không chịu có chấp nhận được hay không. Trong chú giải có nói vì sao cơ sự như vậy. Các vị tiên này khó chịu vì không hiểu tại sao Thế Tôn một mực kêu gọi người ta sống đơn giản mà bản thân Ngài sống rất sung túc và sang trọng, họ đọc bài kệ rằng Ngài đã nói một đường làm một nẻo, dối thế gạt đời. Đức Phật trả lời, nếu sống ở đời, nói không chịu điều tra, nghe không chịu tìm hiểu là kẻ hỗ trợ tiếng đời; kẻ hỗ trợ cho dư luận thì không tiến bộ được. Nếu mình là người cẩn trọng thì người ta có nói gì cho mình nghe cũng không để ý và khi mình nói thì cẩn thận. Khi quần tiên nghe như vậy thì họ sám hối, nhưng lại thấy Thế Tôn mỉm cười, họ bực mình.

Theo chú giải, Thế Tôn mỉm cười vì họ chưa hiểu hết những lời Ngài nói, mà sám hối chỉ là một phản ứng rất là tự nhiên: “Kasmā?” Vì sao Thế Tôn mỉm cười? “Tā kira devatā na sabhāvena khamāpenti”, tương truyền rằng, các vị Trời đó không phải sám hối bằng sự hiểu biết thực sự “lokiyamahājanañca sadevake loke aggapuggalaṃ tathāgatañca ekasadisaṃ karonti.” Họ không sám hối bằng tất cả sự hiểu biết cần có mà họ đánh đồng Thế Tôn với thiên hạ trong đời.

Đức Phật đã suy nghĩ, đối với một vị Phật, Ngài nên giúp cho những vị Trời này hiểu về Ngài nhiều hơn thay vì cái hiểu chỉ dừng lại ở đó bằng một lời xin lỗi suông nhẹ nhàng, vì vậy Ngài để cho họ nói thêm rồi Ngài giải thích thêm lần hai. Vì sao Ngài lại mất công như vậy? Vì chúng sanh mỗi người một ý, có nhiều người Ngài phải dài dòng văn tự như vậy mới giải quyết được. Có người Ngài im lặng không trả lời hoặc nói sang chuyện khác. Vì Ngài là bậc nhất thiết trí, toàn giác nên Ngài áp dụng cách này hay cách khác tùy đối tượng để giúp họ hiểu ra vấn đề. Vì vậy Ngài mỉm cười để làm cớ nói lên những điều mà chúng ta đọc trong chánh kinh. Lần này Ngài trả lời thế này:

Như Lai, bậc Giác Ngộ,

Thương xót mọi hữu tình,

Nơi Ngài không tội lỗi,

Trong chương Tương Ưng Bồ Đề, có câu chuyện Đức Phật mới vừa thành đạo xong, Ngài nằm nghỉ trưa, Ma Vương hiện xuống dè bỉu: Tôi tưởng ngài tinh tấn thiền định mà giờ đây thì nằm nghỉ ngơi như người khác chẳng có gì hay. Đức Phật trả lời: Với người như Như Lai, việc nên làm đã làm, gánh nặng đã đặt xuống, Như Lai không từng gián đoạn từ mẫn đối với chúng sinh, người hội đủ những điều như vậy, thì nằm ngủ cũng không lỗi lầm gì, sao soi mói như vậy. Ví dụ như chúng ta thấy Thánh Gandhi hay mẹ Theresa có ngồi xe sang trọng hay mà có nằm chợp mắt giấc trưa cũng đâu có gì lớn chuyện vì cả đời họ đã cống hiến cho quốc gia, cho nhân loại. Ở đây Đức Phật dạy rằng: “Như Lai, bậc Giác Ngộ, Thương xót mọi hữu tình”, người như vậy không lầm lỗi, Ngài thường xuyên sống trong chánh niệm. Trong chú giải nói, ở một vị Chánh Đẳng Giác khả năng từ tâm bao la và thường trực đến mức mà vị đệ tử Thanh văn không bì được. Quí vị tìm xem trong Vô Ngại Giải Đạo (bản dịch của Nguyễn Văn Ngân, nếu đọc bản tiếng Anh thì tốt hơn), chương giải về 73 loại trí, trong đó có nói trí Đại bi của Đức Phật: Mahā Karunā Ñāna; trí này chỉ có ở vị Chánh Đẳng Giác chớ Thanh văn không có, vì Thanh văn cái nhìn còn giới hạn, còn Ngài thì cái nhìn vô hạn và nhanh chóng an trú trong lòng bi mẫn như ý Ngài muốn. Ngài nhìn thấy cuộc đời ở mọi khía cạnh nên lòng từ bi của Ngài đối với chúng sanh sâu và rộng đến mức mà hàng Thanh văn không thể nào nghĩ bàn tưởng tượng được. Trí Đại bi của Đức Phật được gọi là một trong sáu Như Lai biệt trí, nghĩa là trí riêng tư chỉ có ở vị Chánh Đẳng Giác mà thôi. Ngài nói, đối với một người như Ngài, có phải thọ dụng cũng chỉ vì lòng từ bi đối với chúng sinh. Ngài có nhận gì đó của ai cũng chỉ vì lòng đại bi, còn mình thì nhận vì nhu cầu. Đức Phật thì luôn thọ nhận những gì của chúng sinh từ lòng đại bi, dù là một cây tăm xỉa răng, một ly nước lọc, một bó cỏ khô để trải ngồi cũng đem lại cho người ta quả báo cực lớn cho kiếp mai hậu. Với Phật lực và từ trường của một vị Phật, khi thọ nhận của ai gì đó, thái độ từ tâm của Ngài sẽ có ảnh hưởng tích cực và vô cùng lớn cho đối tượng có lòng cúng dường. Còn như phàm phu mình, thấy người ta nhận nhiều khi mình vui, nhưng cũng có cách nhận của họ làm cho mình khó chịu và không muốn cho nữa. Vị Chánh Đẳng Giác chịu nhận của ai cái gì đó thì cách nhận rất là đẹp. Một người thọ nhận như vậy thì Ngài có xài cái gì sang cũng không có lỗi. Đó là nội dung của bài kinh Hiềm Trách Thiên. Tựa kinh ‘Ujjhānasaññi’, nghĩa là ‘hiềm trách’. Nhóm quần tiên này được gọi là ‘nhóm gây sự’ vì hay ưa bắt lỗi người ta. Ujjhānasaññi không phải là tên gọi cho một chủng loại đặc biệt, theo chú giải Pāḷi: “devaloko nāma pāṭiyekko natthi”, vì mấy vị này có tật hay đi bắt lỗi người khác nên được gọi là ‘Ujjhānasaññi’ chứ trên cõi trời Đao Lợi không có phân thứ hạng đặc biệt.

LÒNG TIN

Xin thưa thiệt là chúng tôi tuyệt đối không dám múa rìu qua mắt thợ, chê khen người này người kia, và càng không có ý dám phạm thượng đối với HT Minh Châu, nhưng tôi ngờ rằng có những chỗ không phải HT dịch mà là do người cộng tác. Có những chi tiết trong bản Pāḷi mà tiếng Việt không thấy, trong tiếng Việt có những câu chữ mà trong bản Pāḷi không có. Ở đây chúng tôi dịch lại câu kệ đầu tiên trong bài kinh Lòng Tin: Niềm tin chính là người bạn đồng hành cho chúng sinh trong cuộc đời này, vì không có niềm tin thì không làm ăn gì được hết. Mình phải tin rằng mình đứng đây một lát có xe đò đến đón thì mình mới đi đón xe chứ. Nếu cứ một mực khăng khăng nơi đây không có xe bốn bánh chạy ngang thì còn điều kiện tâm lý nào để đi đón xe. Muốn nấu một ấm nước thì ít ra có niềm tin làm được mới đi nấu ấm nước. Nếu mình không có niềm tin thì làm gì bây giờ. Câu đầu tiên ở đây là:

“Saddhā dutiyā purisassa hoti”. Niềm tin là bạn đồng hành của con người. ‘Dutiyā’ có hai nghĩa: 1. ‘thứ hai’ (second), 2. ‘bạn bè’. Ví dụ: Dutiyampi Buddham saranam gacchami: Con xin qui y Phật lần thứ hai. Ở bất cứ quãng đường nào, nơi chốn nào, ngoại trừ mình ra còn có kẻ thứ hai được gọi là “bạn” (bạn là người thứ hai tính luôn mình). Trong kinh có chữ “tanhā dutiyaka” nghĩa là người sống nặng về tham ái, luôn đồng hành, thường trực, song hành với tham ái.

No ce assaddhiyaṃ avatiṭṭhati; Nếu mình không có phải là loại người thiếu niềm tin; Yaso ca kittī ca tatvassa hoti, thì nhờ vậy sẽ có được mọi thứ ở đời. (‘Yaso’: ‘đồ chúng’. ‘Kittī’: ‘lời khen’). Nếu sống ở đời này có niềm tin, cuộc sống có định hướng thì muốn cái gì cũng được hết.

Trong bản tiếng Việt chỉ có một bài kệ giống như có một vị nói thôi, nhưng trong Pāḷi thì bài kệ chia làm ba phần. Phần thứ nhất từ “Tín là người thứ hai… Ðược sanh lên Thiên giới” là đoạn một vị Trời thứ nhất đọcVị Trời thứ hai đọc từ “Hãy từ bỏ phẫn nộ… không bị trói buộc”.

‘‘Kodhaṃ jahe vippajaheyya mānaṃ,

Saṃyojanaṃ sabbamatikkameyya;

Taṃ nāmarūpasmimasajjamānaṃ,

Akiñcanaṃ nānupatanti saṅgā’’ti.

Vị Trời thứ hai nói: Hãy từ bỏ sân hận ngã mạn, hãy vượt qua các kiết sử, không chấp trước (Akiñcanaṃ) trong danh sắc, không bị trói buộc. ‘Saṅgā’ ám chỉ cho ‘tham’, ‘sự dính mắc’. Có năm thứ saṅgā: tham, sân, si, mạn, kiến.

Đức Phật trả lời bằng hai câu kệ Pháp Cú số 26, 27:

‘‘Pamādamanuyuñjanti, bālā dummedhino janā;

(Kẻ ngu, thiếu trí luôn sống trong dễ duôi buông lung phóng dật). Vị nào đi chùa Nam Tông thường hay nghe chữ ‘dễ duôi’, chữ này ít dùng nhưng ở ngoài đời thường dùng từ ‘dễ ngươi’. Không biết từ bao giờ chữ ‘dễ ngươi’ trở thành ‘dễ duôi’. Ở trong room có một người hiểu nhầm chữ vedanā là thọ nhận, đây là sự nhầm lẫn rất lớn. Vedanā (feeling, sensation) không phải là thọ trong chữ thọ nhận. Chữ này từ ngữ căn là Ved. ‘Vedanā’ có một thời được các ngài trước thời ngài Huyền Trang dịch là Giác, về sau dịch là Thọ. Còn chữ thọ’ trong ‘thọ nhận’ thì không có mắc mớ gì với chữ ‘vedanā’ này. Có một số trường hợp “sính chữ” rồi tự biên tự diễn hơi xa.

Appamādañca medhāvī, dhanaṃ seṭṭhaṃva rakkhati. Người hiền trí sống cẩn thận có chừng mực không dễ ngươi, giống như người giàu có giữ gìn tài sản.

‘‘Mā pamādamanuyuñjetha, mā kāmarati santhavaṃ; Cho nên đừng tiếp tục dễ ngươi nữa. Đừng tiếp cận với niềm vui trong dục lạc nữa

Appamatto hi jhāyanto, pappoti paramaṃ sukha’’ntntti. Người không dễ ngươi là người sống trong thiền định, nhờ vậy mà đạt được hạnh phúc tối thượng

[30] Thiền

Chữ Jhāyanto ở đây chỉ cho hai thứ thiền:

1. Lakkhano panijhāna: Thiền lấy Tam tướng làm trọng điểm, tức thiền Quán: quan sát thân tâm, danh sắc, năm uẩn, 12 xứ, 18 giới từ góc cạnh Tam tướng, cái gì trên đời này cũng do nhân duyên mà có và cũng do nhân duyên mà diệt, cái gì có sanh có diệt thì cái đó vô thường, cái gì vô thường thì khổ, vô ngã, không nằm trong quyền lực của ai hết… Thiền định nhắm đến tinh thần của Tam tướng, đó là thiền Quán.

2. Aramanu panijhāna: thiền lấy cảnh giả định làm trọng điểm, gọi là thiền Chỉ, tập trung tư tưởng vào trong đề mục nào đó (đất, nước, lửa, hơi thở..) tập trung vào cảnh giả định (cảnh không có thật).

Nếu nói rốt ráo thì thiền Quán nhìn vào bản chất rốt ráo của các pháp. Trong tạng Kinh, Luật thì nói: tôi giận, tôi đói, tôi no… nhưng bên tạng A-tỳ-đàm thì chỉ nói đây là đất, đây là nước, đây là lửa, đây là gió, đây là tâm thiện, đây là tâm tham, đây là tâm sân, đây là tâm thiền… chớ không có người nào ở đây. Trong chú giải có câu này tôi rất thích:

Dukkhameva hi, na koci dukkhito;

Kārako na, kiriyāva vijjati.

Atthi nibbuti, na nibbuto pumā;

Maggamatthi, gamako na vijjatī’’ti.

(Chỉ có sự khổ mà không có người chịu khổ; chỉ có hành động chứ không có người hành động; chỉ có sự Niết bàn, không có ai là kẻ Niết bàn; chỉ có con đường thánh đạo mà không có ai đi trên đó”). Câu này có nội dung rất độc đáo, có hiểu được kinh này mới hiểu được bài Tâm Kinh của Bắc Tông: vô vô minh, vô vô minh diệt – tức là không có khổ tập diệt đạo, không có vô minh, không có lão tử gì hết… Độc đáo ở chỗ, ngày nào mình chưa biết Phật pháp, mình cứ tưởng là có một ‘thằng tôi’ tồn tại trên cuộc đời này bị cái này được cái kia, thiếu cái này, có cái nọ, cái này ngon, cái này bảnh, cái này hèn…, nhưng từ khi biết đạo thì thấy danh lợi, tình cảm phù phiếm ngoài đời chỉ là giọt sương trên cỏ, ảo giác mù khơi, chứ không phải là cái gì đó thực tại hằng hữu; từ đó họ bỏ hết chỉ tập trung lo cho đạo, lo nghe pháp, lo giữ giới, lo thiền định. Khổ thay, ngày xưa mình chấp danh chấp lợi, chấp tiền, chấp tình, bây giờ mình coi đó là mù sương ảo hóa, giờ đây mình cạo đầu trọc lóc cho bóng lên để rồi mình chấp vào cái khác cao cấp hơn một chút, chấp vào đức hạnh, vào pháp tu: “tôi là người trong sạch”, “tôi là người có trí tuệ”, “có mấy ai được như tôi”… Chỗ này các vị cần đến một bước đi dứt khoát hơn, nghĩa là, nếu tất cả đau khổ, tất cả mọi sự là ảo thì con đường giải thoát cũng không phải là gì để chúng ta tự hào tự cao tự đắc vì nó. Bởi vì chúng ta giả định phiền não là một chứng bịnh, bao nhiêu pháp môn tu hành chỉ là thuốc chữa bịnh, chỉ có người điên mới đi khoe mỗi ngày mình uống thuốc ngon thuốc đắt tiền. Chúng ta hoàn toàn không có bất cứ một lý do nào để tự hào tự đắc tự mãn rằng tôi là giới luật trong sạch, tôi tinh thông Phật pháp, tôi kham nhẫn, tôi hành xả từ bi trí tuệ v.v… bởi vì mình đang uống thuốc mà. Ngay cả một vị thánh cũng không có một cái gì để các vị đó tự hào, vì một lẽ đơn giản mình bị khổ mình may mắn mình gặp minh sư thiện hữu, thuốc hay, thầy giỏi, thì mình không còn bịnh nữa mình trở thành vị thánh, chỉ vậy thôi, chứ không có cái gì để mình tự hào tự đắc hết. Giống như mình lọt dưới sình, mình loi choi một lát mình leo lên được trên bờ mình rửa sạch cái chưn, thì cái đó có gì đâu mà để khoe. Cho nên ở đây mới nói: Chỉ có khổ mà không có người chịu khổ. Chỉ có tập đế mà không có người tạo ra khổ. Chỉ có Niết bàn chứ không có người chứng đắc – câu này quan trọng lắm, bởi vì có rất nhiều Phật tử cứ mong là tôi sẽ được cái này, tôi sẽ được cái kia, tôi sẽ về trời, tôi sẽ được làm người, tôi sẽ chứng Niết bàn…. Trong Kinh Căn Bản Pháp Môn, kinh đầu tiên của Trung Bộ Kinh Đức Phật đã nói: Kẻ vô văn phàm phu không hiểu được pháp của bậc thánh, không hiểu được pháp của chân nhân, kẻ ấy đã nghĩ về Niết bàn bằng ý niệm bản ngã, thấy có ta trong Niết bàn, trong Niết bàn có ta, lấy ta đối chiếu với Niết bàn và lấy Niết bàn đối chiếu với bản thân ta, ta nói rằng kẻ ấy không hiểu được Niết bàn. Trong khi mình cứ thấy danh sắc, tấm thân này, tinh thần này là phù hư ảo hóa thì mình giải quyết được nó thì cũng là thứ ảo hóa phù hư chớ có gì đâu mà hay. Mình coi nó là cỏ là rác thì cây chổi quét rác cũng chỉ là đồ hốt rác thôi.

TỤ HỘI

(Samayasuttaṃ)

Bài kinh này được Đức Thế Tôn giảng tại Kapilavatthu. Theo chú giải, vào một mùa khô năm đó, dòng sông Rohini nằm giữa hai xứ nội và ngoại của thái tử Tất Đạt đã khô cạn, chỉ còn một ít nước giữa dòng. Ở một xã hội nông nghiệp như Ấn độ thời đó (và bây giờ cũng vậy) nước là một nhu cầu thiết yếu và vô cùng sinh tử đối với người làm nông, nên bên nội và bên ngoại của thái tử Tất Đạt giành nhau phần nước ít oi đó cho dân chúng canh tác. Bên Tây có câu: khi hai con chó đang chơi thân nhau lạy trời cục xương đừng rơi xuống.Trước đây hai bên hòa hiếu thương mến nhau, nhưng giờ vì quyền lợi, cả hai bên xích mích mâu thuẫn và động binh. Lúc đó Đức Phật xuất hiện và hòa giải cả hai bên. Khi hòa giải rồi họ áy náy ray rứt vì chỉ chuyện cãi cọ mà khiến Thế Tôn vất cả can thiệp, họ bày tỏ lòng hối hận bằng cách mỗi bên cử 250 thanh niên đi xuất gia gieo duyên để tỏ lòng sám hối với Thế Tôn. Năm trăm vị này đều đã có vợ con hoặc đã trưởng thành đến tuổi cập kê cả, họ định xuất gia gieo duyên, nhưng khi vào xuất gia trong thời gian rất ngắn được Đức Phật hướng dẫn họ chứng quả A-la-hán hết. Như vậy là bên cạnh Đức Phật không kể số Thánh tăng có sẵn, chỉ riêng nhóm vị tân thọ tỳ kheo dòng Thích Ca đã là 500 vị La-Hán vây quanh Đức Phật. Đêm đó chư thiên trong nhiều ngàn thế giới nhìn thấy vị Phật ngồi giữa 500 vị La hán họ ngưỡng mộ nên kéo nhau đến đảnh lễ, chiêm ngưỡng. Theo trong kinh, bắt đầu chỉ những vị Trời xung quanh Kapilavatthu thôi, họ đồn với nhau và đọc câu kệ thế này: Gặp gỡ được một Đức Phật là một điều lợi lạc, lắng nghe được chánh pháp là một điều lợi lạc, gặp gỡ chúng Thánh tăng là một điều lợi lạc. Chỉ mấy câu nói đó nhưng vang lên đến cõi Tứ Thiên Vương, Đâu Suất, Dạ Ma v.v… Cuối cùng mười ngàn thế giới đều lặp đi lặp lại, vang vọng tiếng vang đó. Chư Phật ba đời, vị nào cũng có tối thiểu một lần đại hội chư thiên trong vô số vũ trụ. Trong đời mỗi vị Phật tối thiểu có một lần đại hội thiên chúng thì đời Đức Phật Thích Ca cũng chỉ có một lần, đó chính là lần này, từ các cõi Phạm thiên như Ngũ Tịnh Cư trở xuống Dạ Ma, Đao Lợi, Tứ Thiên vương… đều tụ họp để nghe kinh thính pháp. Lúc đó Ma Vương (Ác Ma Thiên Tử) nóng ruột, rất là bực mình vì người ta đến nghe pháp quá đông, nên đã huy động một lực lượng tùy tùng rất đông để tạo ra âm thanh hình ảnh phá đám đại hội. Đức Phật biết rõ nên đã chú nguyện rằng: mong sao tất cả thiên chúng có mặt đại hội này đừng ai nghe thấy gì về sự có mặt của Ma Vương và tùy tùng. Chủ tớ Ma Vương có hiện hình biến dạng kiểu nào cũng không ai nghe thấy. Đức Phật nhìn thấy chư thiên về đông quá, Ngài suy nghĩ cân nhắc đêm nay nên thuyết pháp độc giảng hay vấn đáp sẽ tốt hơn. Ngài chọn cách vấn đáp và suy nghĩ ai là người sẽ vấn đáp đêm nay. Xét trong hàng đệ tử Thanh văn, trí tuệ thì có nhưng ngồi vị trí tương đương với Ngài để vấn đáp thì chưa đủ, Ngài nhìn quanh và nhìn rất xa vô số vô lượng vũ trụ không thấy một vị Phật thứ hai. Cảnh giới của chư Phật có ba khetta[1] (tạm gọi là khu vực): Jātikhetta (sinh vức), Ānakhetta (uy vức), Visāyakhetta (tuệ vức)Khi thấy chư thiên về đông quá, Ngài nhìn quanh, Ngài nhìn đến một quãng nào đó đã quá xa rồi, trong kinh không nói rõ bao nhiêu, chỉ nói là quá xa. (Xem sớ giải kinh Mahāsamaya của Trường Bộ, những điều chúng tôi nói là kết hợp sớ giải của Kinh Tương Ưng và sớ giải của Kinh Trường Bộ về đại hội này). Lúc đó Đức Thế Tôn dùng Phật trí nhìn quanh không thấy vị nào giống như Ngài, thế là Ngài dùng thần thông hiện ra một vị khác giống như Ngài, gọi là vị Hóa Phật. (Nimmitabuddha – Vị Hóa Phật này là do Ngài dùng thần thông để tạo ra giống như Ngài, xin đừng hiểu lầm vị Hóa Phật này giống Phật Đa Bảo trong Kinh Pháp Hoa). Vị Hóa Phật này từ trên hư không bước xuống và chỗ ngồi của Ngài tự nhiên rộng ra để hai vị có thể ngồi và bắt đầu thuyết pháp vấn đáp. Khi đó Đức Phật suy nghĩ thế này: Đêm nay thiên chúng về đông quá, nhưng chúng sanh trong đời dù có đông bao nhiêu đi nữa vẫn gói gọn trong sáu nhóm: nặng về tham, nặng về sân, nặng về si, nặng về tầm, nặng về tính, nặng về giác; nặng về tham nghĩa là tham nhiều, nổi trội, người thì sân nhiều nổi trội, tầm là lăng xăng, buông cái này bắt cái kia v.v… Đức Thế Tôn quyết định không thuyết pháp một mình mà thuyết theo kiểu vấn đáp, và đề tài thích hợp cho sáu cơ tánh (khuynh hướng tâm lý khác nhau) đó là 6 bài kinh này: 1.Kinh Chánh Xuất Gia (Sammaparibbajaniyasutta) dành cho người có tánh tham. 2.Kinh Tranh Luận (Kalahavivādasutta) dành cho người có tánh sân. 3.Kinh Vấn Đề Nhỏ (Culabyuhasutta) dành cho người có tánh tầm. 4.Kinh Vấn Đề Lớn (Mahabyuhasutta) dành cho người độn tánh. 5.Kinh Con Đường Mau Chóng (Tuvatakasutta): dành cho người có tánh tín. 6. Kinh Trước Khi Bị Hủy Hoại, hay còn gọi là Kinh Tư Lương (Purābhedasutta) dành cho người nặng về tánh giác. Xem 6 bài này trong Kinh Tập (Sutta Nipatā), chương kế chót.

Sáng nay có hai điều tôi thích đó là tôi dịch lại được tựa đề bài kinh Sáng nay có hai điều tôi thích đó là tôi dịch lại được tựa đề bài kinh Nasantisutta “Chúng Không Phải” thành “Không Hề Có” hoặc “Chưa Từng Có”, và dịch lại chữ Thiền. Thiền trong PGNT rất rõ ràng: 1/Tập trung tư tưởng là thiền Chỉ, có công dụng áp chế phiền não tạm thời như đá đè cỏ. 2/Thiền Quán: nhìn sâu xa vào bản chất thực sự của vạn hữu, đây là vô thường, đây là khổ, đây là tập v.v…; chưa là thánh nhân chỉ cần biết bao nhiêu đó thôi, trong khi mình đang nhận diện đó là đang trên con đường thực hành Đạo đế tuy chưa đi tới đâu hết. Đạo đế rốt ráo thì chứng được Diệt đế. Ngày mai sẽ học 6 bài kinh[2] trên.

Những bài giảng này được lưu trữ dưới dạng âm thanh trên internet ở địa chỉ sau đây: www.vietheravada.net; bản kinh Pāḷi và Sớ giải từ địa chỉ www.tipitaka.org.
Các bài viết trong sách

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *