Bài giảng Kinh Tương Ưng Tập 1 – Chương 1: Tương Ưng Chư Thiên – Phẩm Kiếm

Bài giảng Kinh Tương Ưng Tập 1

Chương 1: Tương Ưng Chư Thiên

Phẩm Kiếm

NƯỚC CHẢY

Sarasuttaṃ

“Kuto sarā nivattanti, kattha vaṭṭaṃ na vattati;

Kattha nāmañca rūpañca, asesaṃ uparujjhatī”ti.

“Yattha āpo ca pathavī, tejo vāyo na gādhati;

Ato sarā nivattanti, ettha vaṭṭaṃ na vattati;

Ettha nāmañca rūpañca, asesaṃ uparujjhatī”ti.

‘Sarā’: ‘tia sáng’, ‘nước chảy’, ‘dòng nước’. Bài kinh này đề cập đến “nước” nên phải hiểu ‘sarā’là ‘dòng chảy’. Trong bài kinh này không nêu rõ người hỏi là ai, không tên cũng không nhân thân. Bản dịch tiếng Việt như thế này:

“Chỗ nào nước chảy ngược?

Chỗ nào nước xoáy dừng?

Chỗ nào danh và sắc,

Ðược đoạn diệt, không dư?

Chỗ nào nước và đất,

Lửa, gió không vững trú,

Do vậy nước chảy ngược,

Chỗ ấy nước xoáy dừng,

Chỗ ấy danh và sắc,

Ðược đoạn diệt, không dư.”

Có một chuyện gần như là bắt đầu một bài giảng chúng tôi cố ý nhắc lại cho quí vị đừng quên, và cho những người lần đầu nghe không bị khó chịu, đó là tại sao có nhiều chỗ Đức Phật có cách nói về đạo giải thoát nghe rất mênh mông, và có chỗ thì cách nói nghe như thiếu thiếu. Chẳng hạn như trong bài này Ngài chỉ nói là “chỗ nào không đất nước lửa gió” chứ Ngài không nhắc đến những yếu tố khác. Ở đây những người học A-tỳ-đàm dễ bị đụng nghề nghiệp; ví dụ, trong đây chỗ nào không có bốn đại thì chỗ đó được xem là chỗ giải thoát, người đó sẽ thắc mắc nếu vậy trên cõi Vô Sắc là cõi giải thoát hay sao? Không phải như vậy. Lý do là vì Đức Thế Tôn nhìn vào căn cơ của người đối diện, và ở đây ta không biết người đó đã thưa trình gì với Đức Phật mà trong kinh chỉ thấy câu trả lời của Đức Phật thôi. Căn cứ vào chú giải và những bài kinh trước chúng ta bắt buộc phải hiểu rằng là có những người mà Đức Thế Tôn phải nói như vậy. Ví dụ trong đời sống bình thường của một gia đình nghèo khó, người cha nói với con: “Ráng học cho giỏi để mai mốt không nghèo như ba”. Có trường hợp khác người cha khác nói: “Đời ba tủi nhục đủ rồi, con ráng học để mai mốt ngẩng mặt lên mà đi giữa đời, sống ở thiên hạ đừng để tủi nhục như ba”.Đối với một đứa bé nhà giàu thì ông bố có thể sẽ nói khác: “Ráng học giỏi mai mốt ba giao cơ nghiệp lại cho con…”. Cũng là lời người cha đối với con nhưng mỗi trường hợp cách nói khác nhau dù tình cha con nào cũng như nhau và mục đích của câu nói là khích lệ đứa con ráng học hành tử tế.

Trên bản Pāḷi có chữ sarā là dòng nước, chữ vaṭṭa là ‘vòng tròn luân hồi’. Bà con vào tipitaka.org tìm bản Saṃyuttanikāya. Tại sao tôi phải đề cập đến điều này, hiện nay theo chỗ biết của tôi ngoại trừ các xứ Nam Phương như Miến Điện, Thái Lan, hoặc thêm Tích Lan nữa, nguồn nghiên cứu kinh tạng Nam Truyền hệ Pāḷi chỉ có nguồn tiếng Đức và tiếng Anh. Dĩ nhiên mình người VN mình đọc tiếng VN chứ, nhưng đọc tiếng Việt ta thấy rất mơ hồ, nếu đối chiếu so sánh với bản khác thì tốt hơn. Trang tipitaka.org đã có bản chú giải rất ngon lành bằng tiếng Pāḷi. Bên cạnh đó có bản tiếng Anh và tiếng Đức nữa là quá sướng, tội lệ gì mình cứ phải băn khoăn bản tiếng Việt trong khi đó nó hơi mù mờ và khó. Nếu mình thấy khó quá mơ hồ quá thì nên so sánh đối chiếu với bản dịch khác cho sáng ra.

“Chỗ nào nước chảy ngược? Chỗ nào nước xoáy dừng?

Chỗ nào danh và sắc, Ðược đoạn diệt, không dư?

Giống ngày hôm qua, vị Trời nói trừ bỏ được cái tâm là giải thoát. Ổng không nói chuyện tu hành, mà chỉ nói chuyện duy nhất thôi, làm sao mà không có tâm. Chính vì vậy, Đức Phật điều chỉnh lại: mình tu không phải bỏ cái tâm, mà bỏ phiền não, thì thân và tâm, danh uẩn và sắc uẩn sẽ biến mất. Có những căn cơ khác Ngài nói rốt ráo, Ngài không hề nói chuyện tu hành giới định tuệ hay Bát Chánh Đạo, Ngài chỉ nói một chuyện: Chấm dứt cái đó là ok. Bao nhiêu đó đã đủ, rồi họ đi xuất gia, cần gì thì họ hỏi thêm. Có người, trong lần đầu tiên gặp Đức Phật họ đâu có biết gì về Phật pháp đâu, họ chỉ nghe rằng trên đời này thật sự có một cứu cánh chấm dứt sự đau khổ, đó là sự vắng mặt của danh sắc. Khi đó họ có một khái niệm rồi. Ví dụ ông Bāhiya Daruciriya đến gặp Đức Phật, Đức Phật chỉ dạy ông một bài kệ rất ngắn: Nghe chỉ là nghe, thấy chỉ là thấy, ngửi nếm đụng chỉ là ngửi nếm đụng, suy tư chỉ là suy tư. Ở đây không có ta, không có người, không có bỉ, không có thử, không có so sánh kiêu mạn, hơn bằng thua kém ở đây. Với một người như Bāhiya Daruciriya nghe như vậy là đủ rồi. Ở đây cũng vậy, chúng ta sanh tử luân hồi là vì có danh sắc. Danh sắc là do tập khí sinh tử mà ra. Bây giờ đã đến lúc ôn lại câu thần chú: Do vô minh trong Tứ Đế không biết mọi hiện hữu là khổ, không biết 6 ái là nguồn sanh khổ, không biết có một cứu cánh nằm ngoài khổ và tập và không biết Bát chánh đạo là con đường dẫn đến diệt đế. Bốn thứ không biết này là vô minh trong Tứ Đế. Chính vì bốn vô minh này mới dẫn đến ba hành. Nguyễn Duy Cần viết cuốn Đạo Phật Tinh Hoa nghe hoành tráng, nhưng đặc biệt VN mình không bao giờ có một định nghĩa đàng hoàng về 12 duyên khởi. Chữ “hành” cứ lan man, quí vị cứ vào google.com tìm chữ “12 duyên khởi”, “thập nhị nhân duyên” hoặc “y tha khởi”, sẽ thấy những định nghĩa không dùng được trong tất cả 99%. Mãi đến sau này trong nước có le lói vài cuốn sách có định nghĩa dùng được. Chín mươi chín phần trăm này không phải tham khảo từ nguồn kinh điển Pāḷi mà từ nguồn nào đó nên rất mơ hồ. Một chuyện đáng buồn nữa là hôm nay nếu chúng ta gặp Phật tử Miến Điện, Tích Lan mà hỏi họ “Sơ thiền là gì?” thì sẽ nghe câu trả lời giống nhau: “Sơ thiền là sự lìa bỏ 5 triền cái, là một thứ tâm có đủ 5 chi thiền. Nếu trạng thái tâm này tiếp tục được duy trì cho đến lúc mệnh chung thì người đó sẽ sanh về cõi Sơ thiền có được tuổi thọ một phần ba đại kiếp”. Đây là một định nghĩa bắt buộc và luôn luôn phải nói như vậy khi nói về Sơ thiền. Còn VN mình khi nói về thiền thì mạnh ai nấy nói, cầm một ly trà uống chậm chậm cũng là thiền, múa thái cực quyền dưỡng sinh cũng là thiền, có một góc sân nhỏ nhỏ trồng cỏ với những cây bonsai và tượng Quan Âm cũng là thiền, cuối tuần họp mặt nhau nấu bữa cơm chay ăn rồi tụng kinh Thủy Sám, Di Đà, Phổ Môn gì đó rồi cũng gọi là thiền. Thiền của mình mơ hồ lắm. Cũng vậy, khi nói “vô minh duyên hành”, thấy chữ “hành” là cứ phán “hành” là hành động. Trong kinh điển Pāḷi rất là rõ ràng chỗ này, vô minh là gì,[1] vô minh là sự không biết trong Bốn Đế: 1/ Không biết mọi hiện hữu là khổ (vô minh trong khổ đế), 2/ Không biết tham ái là gốc của khổ (vô minh trong tập đế). 3/ Không biết một cứu cánh chấm dứt cả khổ và tập (vô minh trong diệt đế) 4/ Không biết Bát chánh đạo là con đường dẫn đến diệt đế (vô minh trong đạo đế). Chính vì vô minh này nên mới dẫn đến 3 hành: 1/ Phi phúc hành: nghĩa là giải quyết bằng cách bằng cách làm điều ác, sống chìm sâu trong 12 bất thiện (8 tham, 2 sân, 2 si). 2/ Phúc hành: giải quyết cái khổ bằng cách làm lành lánh dữ, tu nhân tích đức, để chết sanh trở lại được làm trời, làm người, mang thân ngon lành hơn, hoặc sanh về cõi Dục Thiên hoặc các cõi Phạm thiên hữu sắc. 3/ Bất động hành: những người đã nhàm chán các tầng thiền Sắc Giới, chuyển sang tu tập các tầng thiền Vô Sắc để lìa bỏ thế giới vật chất. Bởi vì chúng sanh ở thế gian này chia ra nhiều cấp, có người chìm đắm đam mê trong năm dục, có người khá hơn, nhàm chán năm dục, sống trong thiền định nhưng còn lệ thuộc trong thân tướng, đề mục tu thiền vẫn là sắc pháp, cảnh giới vẫn là sắc pháp. Có người cao cấp hơn nhàm chán hình danh sắc tướng này họ hướng đến tầng thiền cao hơn là tầng thiền Vô Sắc Giới, chỉ có tâm thức chớ không có vật chất sắc pháp. Dù ở cõi nào đi nữa, sống hết tuổi thọ cũng trở lại cõi thấp nhất – cõi Dục Giới, nếu may mắn gặp minh sư thiện hữu thì tiếp tục tu hành thì ok, nếu xui mà không gặp, tự mình rất khó ngoi lên lắm. Bởi vì dòng luân hồi nói ra buồn lắm, Đức Phật dùng hình ảnh con rùa mù không phải dọa mình sợ mà thật sự như vậy. Cơ hội để mình làm lành khó lắm, ít lắm, ra đường nhắm mắt quơ tay là đụng toàn người xấu 1000%. Người xấu theo định nghĩa trong kinh điển Pāḷi không giống như định nghĩa ngoài đời, người xấu ở ngoài đời là người có tật ăn cắp, ăn trộm, giết người, hại người, gian trá lật lọng, không trắc ẩn, không thương người vv… nhưng trong kinh điển Pāḷi không định nghĩa nghèo như vậy, mà định nghĩa: Kẻ nào sống nhiều với tâm bất thiện thì đó là người xấu. Chỉ mới trong tâm thôi nghen, chứ không phải là hành động, đến mức bất thiện mà thể hiện ra ngoài thân nghiệp khẩu nghiệp thì quá sức nặng rồi, đằng này là chỉ là trong tâm thôi. Kẻ nào sống nhiều thời gian trong ngày trong đời cho phiền não, trong phiền não, bởi phiền não, kẻ đó được gọi là kẻ xấu, kể cả chúng ta đang ngồi trong room đây, kẻ đang nói và người đang lắng nghe, nếu cần phải nói chúng ta đang là người xấu. Chúng ta không có lý do nào ngại ngùng khi xác nhận chuyện này hết, trong một ngày 24 giờ đồng hồ, 99% thời gian chúng ta sống bằng tâm trời ơi đất hỡi, không tham thì sân, mà si thì có mặt trên từng cây số. Tham ở đâu thì si ở đó mà sân ở đâu thì si cũng nằm ở đó. Đối với người như mình thì tà kiến thường trực luôn, liên tục và liên tục. Mình nói vô ngã, vô thường, khổ không là nói cho vui vậy thôi chứ còn luôn luôn mình sống trong tâm niệm “tôi” và “của tôi”, lâu lâu chánh niệm, trí tuệ chen vô một chút. Cái biết của mình không đủ để trấn áp phiền não, trừ khi mình là một hành giả chuyên tu, liên tục ghi nhận đây là danh đây là sắc, nó đến rồi đi. Luôn luôn như vậy, thay vì ghi nhận tâm sân thì mình ghi nhận tâm sân đang vô thường, tâm tham đang vô thường, tôi đang hít vô thở ra bằng thọ hỷ và thọ hỷ này đang vô thường, chỉ một hành giả chuyên tu như vậy suốt ngày đêm thì may ra chớ còn 99% chúng ta sống trong tâm niệm đây là tôi, đây là của tôi. Làm ơn bỏ giùm tôi cái suy nghĩ “tôi là Phật tử”, cứ tưởng mình là Phật tử. Cái mình nhớ không phải là Phật tử mà là sự vô thường của danh sắc, nhớ nhân quả báo ứng. Luôn nhớ đây là nhân xấu, đây là nhân thiện, đây là quả thiện, đây là quả xấu, suy tưởng về nhân quả hoặc suy tưởng về Tam tướng. Nếu không sống trong tâm niệm này, chúng ta sẽ luôn sống trong phiền não, tà kiến, ngã mạn. Người xấu là như vậy. Nếu đã phân tích rốt ráo như vậy rồi thì trong dòng luân hồi, cơ hội nào để mình làm thiện đây? Hiếm lắm! Nếu mình được gặp Phật, gặp hiền thánh, họ dạy cho mình hành thiền, đắc thiền Phi tưởng phi phi tưởng, về trời sống 84 ngàn đại kiếp rồi hết hạn lọt xuống đây nữa rồi sao, huơ tay gặp lại toàn trời ơi đất hỡi không làm sao mình có cơ hội nhớ lại chuyện xưa để mà tu hành dù trong kinh có nói người từ cõi trên xuống lòng họ hiền thiện lắm, nhưng nếu không chuyên tu thì hiền thiện đó không có cơ hội phát triển. Trong một khu vườn hoang có dăm ba hột đậu, sầu riêng, trong khi mênh mông toàn cỏ hoang mọc đầy cỏ gai ngập lối thì làm sao những hột này phát triển. Bằng mọi giá phải huân tu công đức, tác ý đến chuyện lìa bỏ danh sắc chớ đừng nghĩ đến chuyện “hội nhập ta bà phổ độ chúng sinh”, yếu người đừng đi nắng. Chỉ có những người đại hùng đại lực họ liệu cơm gắp mắm, họ biết người như họ không thể đi một mình, họ phải đi chung, họ không thể đi ké thuyền bè của người khác mà hoàn toàn có sức đóng hẳn một chiếc tàu lớn chở nhiều người, người đó gọi là Bồ tát Chánh Đẳng Giác, họ gồng mình chịu đựng lăn trôi đời này qua kiếp khác, huân tập Ba-la-mật để thành Phật độ sinh. Vì sao trong kinh điển Pāḷi không mặn mà với chuyện kêu gọi thành Phật? Không có trường đại học nào dạy người ta làm tỷ phú hay dạy người ta cách kiếm giải Nobel mặc dù có nhiều trường (Yale, Standford, Oxford, Harvard…) mà nhiều sinh viên xuất thân từ đó lãnh giải thưởng này, giải thưởng kia trên thế giới, nhưng hoàn toàn không có nghĩa là các trường đó chuyên đào tạo những người như vậy. Quả vị Chánh Đẳng Giác khó kinh hoàng chớ không dễ, nên không thể bịa ra lý tưởng Bồ tát, Phật đạo… Chỉ cái chuyện lìa bỏ năm uẩn, lìa bỏ danh sắc đã khó rồi cực kỳ rồi. Quí vị thử một lần bị sốt, bị chóng mặt, tiêu chảy… lúc đó không còn bụng dạ nào nghĩ đến chuyện tế độ quần sanh. Đừng nói chi đến Bồ tát đạo, Bồ tát giới, chỉ chuyện căn bản bớt tham bớt sân bớt si, không có kiêu ngạo ích kỷ mà vừa bị chạm vào đã nổi điên rồi. Có câu chuyện một vị kia gõ cửa thiền sư xin ngủ nhờ: Thưa ngài con là một người phú thương, lỡ đường, ngủ ngoài sợ trộm cướp nên xin ngủ trong am của ngài. Thiền sư nói, trong này chật lắm, không chứa nổi phú thương, đại gia đâu. Ông kia phải sửa lại, con chỉ là khách lỡ đường. Lúc đó thiền sư mới chứa. Đường luân hồi là hành trình vạn lý, hành lý trên vai mình càng gọn càng nhẹ chừng nào thì càng dễ đi. Tôi nhớ có lần tôi vào trong tiệm bán đồ thể thao, họ có tấm banderole viết mấy chữ rất dễ thương “go fast, go light, go small”. Ai biết tiếng Anh thì bắt lỗi câu này sai văn phạm, nhưng người Mỹ họ không quan tâm điều đó. Ba lô, lều, đôi giày, nón, dao búa… đều rất là nhẹ. Búa kềm rớt dưới nước bảo đảm không chìm vì phần chịu ma sát ở đầu búa đầu kềm dát bằng kim loại còn phần còn lại cán búa hoặc tay cầm đều bằng nhựa. Đối với một người muốn đi du lịch, cắm trại, thì hành trang càng gọn nhẹ càng tốt. Tu hành cũng vậy, bỏ bớt những gánh nặng không thật sự cần thiết, vì vậy phải phân biệt cái gì mình cần và cái mình thích. Nếu mình lăn lóc ngoài chợ đời mà chỉ tập trung lo cho cái mình cần thôi thì đỡ cực khổ nhiều. Khổ một nỗi chúng ta dành quá nhiều thời gian công sức cho cái mình thích, đó mới làm khổ mình. Để nuôi sống mạng của mình, mình hoàn toàn có thể sử dụng thực phẩm nước uống rẻ tiền, đằng này mình cứ chạy theo cái mình thích nên mình khổ. Vì vậy trong bài kinh này dạy rằng: chỗ nào lìa bỏ danh sắc thì chỗ ấy sẽ được giải thoát. Trong kinh khi mô tả một vị A-la-hán thì định nghĩa thế này: “vusitavā: người phạm hạnh đã thành, katakaranīyo: chuyện nên làm đã làm, ohitabhāro: gánh nặng đã đặt xuống”

Người có chút tương chao chỗ này mới thấm: Người có chút tương chao chỗ này mới thấm: “gánh nặng đã đặt xuống”. Mỗi ngày bước vào phòng tắm là đã phiền rồi, không tắm thì ai chịu nổi, cần phải có nhà tắm, có nước, có xà bông, khăn lau…Nói đến chuyện ăn, thức ăn dư bỏ vào thùng rác gớm cỡ nào mà sao mình bỏ vào miệng mình không gớm. Thùng rác mới mua chưa qua sử dụng, 4 món ăn thừa mới ăn trên bàn, nếu đổ vào thùng rác, biểu mình thò tay vào thì mình không dám rồi vậy tại sao bỏ vào miệng mình không gớm. Đối với hành giả, ăn là gánh nặng, tắm rửa cũng là gánh nặng, giặt đồ cũng là gánh nặng, mất công mất thì giờ. Bụi trong nhà mình 70% là da khô, tế bào chết của mình, biết được như vậy khi mình đặt chân vào nhà người khác, nằm trong giường người khác gớm cỡ nào. Trong quan hệ xã hội, phải thù tạc qua lại với láng giềng, bè bạn, người thân, đồng nghiệp, sếp … tất cả mình phải đương đầu giải quyết bao nhiêu chuyện thì còn tâm trí đâu mà lo cho Phật pháp. Mang thân người với chừng đó gánh nặng, thiếu công đức, chết đọa xuống; còn đắc thiền về trời rồi sau đó cũng trở xuống, cơ hội thành trùn thành dế rất dễ dàng. Con trùn chỉ là trùn giống như bánh hỏi nằm một nùi dưới cống, mấy đứa bé vớt về bán cho người ta nuôi cá. Nếu mình sanh làm một con trong đó thì kinh hoàng cỡ nào. Ngày xưa tôi ở Đồng Nai, một gò mối không biết bao nhiêu con, những đêm trời mưa để đèn dầu nó bay mù trời, nếu một lần chui vào thân con trùn con mối như vậy cơ hội trở ra khó biết là bao, làm thân con người còn tiếp xúc với minh sư thiện hữu để huân tu công đức còn có cơ hội để trồi lên. Còn chun vô cảnh giới tăm tối đó thì làm sao lên, phải nhờ đến cái tiền nghiệp quá khứ tên gọi là “hậu báo nghiệp”.

 

[28] Bốn loại nghiệp.

Có bốn loại nghiệp: hiện nghiệp, sanh báo nghiệp, hậu báo nghiệp, vô hiệu nghiệp

Trong dòng sanh tử luân hồi đăng đẳng này, chúng ta luôn luôn tạo nghiệp mới lúc thiện lúc ác, loại nghiệp nào cho quả ngay đời sống hiện tại gọi là “hiện nghiệp”, loại nghiệp nào cho quả ngay đời kế tiếp theo kiếp này gọi là “sanh báo nghiệp”, “hậu báo nghiệp” là loại nghiệp cho quả từ kiếp thứ ba trở đi kéo dài cho đến bao giờ không còn hiệu lực nữa hoặc là khi mình viên tịch Niết-bàn thì thôi. Nghiệp thứ tư là “vô hiệu nghiệp” là nghiệp mà do một lý do nào đó không cho quả, hoặc đến lúc trổ quả thì gặp một thứ nghiệp khác trổ quả cùng lúc mạnh hơn lấn lướt, hoặc chưa kịp trổ quả thì đương sự đã nhập Niết-bàn, hoặc là lúc trổ quả đương sự đang ở trong hoàn cảnh không thể trổ quả được. Ví dụ nghiệp sát sanh của tôi phải bị người ta đánh, giết, yểu thọ, nhưng thời điểm trổ quả tôi đang ở trên cõi Phạm Thiên, hoặc điều kiện hoàn cảnh không hợp cho việc trổ quả đó, thì nghiệp sát sinh đó là vô hiệu nghiệp. Vô hiệu nghiệp có nhiều trường hợp, chẳng hạn như khi tôi đắc Sơ Thiền, tôi đang gieo nhân cõi Sơ Thiền, sau đó tôi lại đắc thêm Nhị Thiền thì tôi chết sanh về cõi Nhị Thiền, lúc bấy giờ nghiệp Sơ Thiền kia coi như là vô hiệu nghiệp. Những côn trùng giun dế đi lên bằng hậu báo nghiệp, nhưng sau một thời gian dài sống tăm tối mà lên mang thân người thì rất khờ, khả năng trí tuệ là zero, nếu may mắn gặp minh sư thiện hữu kèm cặp dạy dỗ mình thì may ra mới “phục hồi nhân phẩm” trở lại. Tội của danh sắc là như vậy đó. Muốn danh sắc vắng mặt thì trước hết ta phải nhàm chán danh sắc. Nhàm chán bằng cách nào? Toàn bộ bài học này là để cho chúng ta nhàm chán, chứ đừng có dệt mộng rằng ta sẽ xây dựng cõi tịnh độ nhân gian hay thiên đường hiện tiền, thế giới đại đồng coi như là anh em, hy vọng một ngày ngủ không cần đóng cửa, của rơi ngoài đường không ai lượm, người người nhìn nhau bằng ánh mắt người thân vv…Giàu như nước Mỹ cũng có một tỷ vấn đề, tuổi trẻ được ăn học đàng hoàng, có nghề nghiệp đảm bảo, nhưng khi có vợ có chồng tỉ lệ li dị rất cao vì cả hai đều có khả năng sống độc lập. Có hai vợ chồng người Đức ở với nhau mười mấy năm mà không cưới, người chịu tiền điện kẻ chịu tiền nước. Cuộc sống sung sướng quá họ sợ sanh con, nên xã hội thặng dư người già. Không gì thê thảm cho bằng giữa mùa đông tuyết giá có những người già rất giàu một mình cô đơn đẩy xe hàng đi chợ, leo lên xe bus, theo sau là con chó, một ngày nào đó chết một mình thì nhân viên xã hội đến mang đi. Suốt một thời tuổi trẻ đi làm, một phần lương dành đóng bảo hiểm cho tuổi già, một thế giới thiên đường như vậy đó. Tuổi trẻ làm ra tiền để có một tuổi già trong viện dưỡng lão sang trọng tiện nghi, nhìn là muốn già liền. Các cụ trong đó toàn những cao thủ võ lâm tai không thèm nghe mắt không thèm thấy!!!

Tóm lại, “Chỗ nào nước chảy ngược? Chỗ nào nước xoáy dừng? Chỗ nào danh và sắc, Ðược đoạn diệt, không dư? là vậy đó. Lâu nay mình sống xuôi theo dòng đời, giờ đây mình sống ngược lại, danh sắc không còn tiếp tục có mặt nữa. Hồi đó đến giờ mình luân hồi vì mình thích cái này thích cái kia, giờ mình không thèm thích nữa, mình sống ngược dòng đời, và cứu cánh Niết bàn cũng là cái gì đi ngược lại những thứ mà chúng ta đang sống nghĩa là một sự phủ định toàn diện mọi hiện hữu. Đó là nội dung bài kinh Nước Chảy

GIÀU LỚN

Bài kinh này giống bài kinh trước một chỗ là danh tánh và nhân thân của người hỏi không được nêu rõ mà chúng ta chỉ có một câu kệ là câu hỏi và câu trả lời của Đức Thế Tôn:

“Sát-đế-lỵ giàu lớn,

Tài sản, quốc độ lớn,

Luôn luôn ganh tị nhau,

Hưởng dục không biết ngán,

Giữa người sống dao động,

Trôi theo dòng tái sanh.

Ai bỏ tật và ái,

Không dao động giữa đời.

(Thế Tôn):

Vị xuất gia bỏ nhà,

Bỏ con, gia súc, thân,

Bỏ tham và bỏ sân,

Và từ bỏ vô minh,

Bậc Lậu tận, La-hán,

Không dao động giữa đời.”

Thật ra không phải là câu hỏi, mà là câu phát biểu, câu tâm đắc của người nào đó thưa với Đức Phật đại ý là: Trên đời này đám nhà giàu chỉ hưởng dục và đấu đá nhau, vì thói quen ganh tị. Câu này nói giống y tâm trạng phàm phu của chúng ta. Mình sung sướng hưởng thụ thì được nhưng ai hưởng thụ giống mình thì mình ghét. Người trình lên Đức Phật nói rằng, những người trên đời này mà ngon lành bảnh bao cũng toàn hưởng thụ ganh ghét lẫn nhau thôi, theo con nghĩ ai bỏ được thói quen hưởng thụ và ganh tị thì giải thoát (“Không dao động giữa đời.”) Trong suy nghĩ của người này là không tiếp tục hưởng thụ và thói xấu ganh ghét là giải thoát, bởi vì người này chỉ chú ý hai điều đó. Đức Phật điều chỉnh suy nghĩ của người ấy lại: Phải thế này mới rốt ráo, Phải lìa bỏ hết mọi sở hữu vật chất, bỏ luôn những gánh nặng về tinh thần (tham, sân, vô minh) thì mới giải thoát. (Giống như balo của người du lịch, chỉ mang theo những gì thật sự cần thiết, trên đường đi tiếp tục bỏ nữa, ăn xong bỏ vỏ bỏ hột). Phải lìa bỏ nhà cửa, vợ con tài sản (“Vị xuất gia bỏ nhà, Bỏ con, gia súc, thân”). Trong bối cảnh Ấn Độ thời đó và các xứ nông nghiệp, gia tài không có gì khác ngoài gia súc gia cầmCon bò rất quan trọng vì cung cấp sức lao động cày bừa, sữa uống. Sữa là nguồn dinh dưỡng rất quan trọng, dân tộc nào biết uống sữa tươi thì họ rất to con, như Mông Cổ, Tây Tạng. Dân VN mình hiếm khi cả nhà uống sữa tươi, chứ những dân tộc dù nghèo như Tây Tạng họ vẫn to con vì uống sữa. Người Ấn coi gia súc rất quan trọng vì đó là một phần đời buồn vui của họ (trâu cày, bò cho sữa, cừu cho áo quần). Vị này đã phác họa lên diện mạo của đời sống, những người giàu sống chìm đắm trong sự ganh ghét, và người nào bỏ được ganh ghét thì giải thoát và Đức Phật nói rằng phải bỏ hết mới rốt ráo.

BỐN BÁNH XE

Bốn bánh xe, chín cửa,

Ðầy uế, hệ lụy tham,

Chìm đắm trong bùn nhơ,

Ôi, thưa bậc Ðại Hùng,

Sanh thú người như vậy,

Tương lai sẽ thế nào?”

(Thế Tôn):

“Cắt hỷ và buộc ràng,

Dục tham và tà ác,

Ái căn được đoạn tận,

Sanh thú sẽ như vậy.”

“Bốn bánh xe”(cakka)chỉ cho 4 oai nghi (iriyapatha). Bà con nhớ những chữ này phải nhớ chữ Pāḷi, chứ biết tiếng Việt không thì không đủ, ai già gần chết chuẩn bị thiền định để đi thì không nói, ai còn chút niềm tin đi xa xa thì nên nhớ chữ Pāḷi để đi tu thiền ở xứ quốc giáo; người ta không dịch, họ xài luôn chữ Pāḷi. Bên Thái việc xài tiếng Pāḷi bình thường, nhiều như tiếng Việt chen từ Hán Việt. Trong một buổi nói chuyện khoảng 15 phút từ Hán Việt chiếm phần rất lớn. Trong tiếng Anh, Pháp Đức, Bồ, Tây Ban Nha, lượng từ La tinh, Hy Lạp rất lớn. Ở Thụy Sĩ có một ngôn ngữ ít người sử dụng, nơi vùng núi, tiếng Roman, được xem là ngôn ngữ cổ những vẫn còn người sử dụng. Người nào biết được tiếng này thì sẽ nghe hiểu được nhiều thứ tiếng khác ( ví dụ Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ý), cũng vậy, học tiếng Pāḷi sẽ biết được thêm cái khác thì rất nên.

Chín cửa (cửu khiếu) (dvāra) gồm: 2 mắt, 2 tai, 2 lỗ mũi, miệng và chỗ bài tiết đại – tiểu tiện.

“kathaṃ yātrā bhavissatī”: cuộc đi đường dài. Kathaṃ (how),

Chữ ‘yātrā’ là cả vấn đề ở đây, trong tiếng Sanskrit cổ (trước thời có internet điện thoại) có nghĩa là “một cuộc đi đường dài”, nhưng hôm nay tại Ấn Độ người ta dùng tiếng Hindi pha lẫn Sanskrit, họ vẫn dùng chữ ‘yātrā’ này với nghĩa: ‘du lịch’ (travel, tourism). Trong tiếng Pāḷi, yātrācũng có nghĩa là “một cuộc đi dài, một hành trình vạn lý” nhưng còn thêm một nghĩa nữa là ‘nhưng còn thêm một nghĩa nữa là ‘niggamana’ (‘chung cuộc’, ‘điểm đến’, hay là ‘chỗ kết thúc’).

 

Ở đây vị này hỏi Đức Phật: Bạch Thế Tôn với một hình hài trong ngoài đều bất tịnh như vậy thì Ở đây vị này hỏi Đức Phật: Bạch Thế Tôn với một hình hài trong ngoài đều bất tịnh như vậy thì chung cuộc của nó phải như thế nào? Không lẽ ngoài dơ trong dơ và cứ thế mà đi suốt đời này rồi kiếp sau cũng thế hay sao, phải có chỗ kết thúc chứ, vậy kết thúc như thế nào: “kathaṃ yātrā bhavissatī’’ti”. Đức Phật trả lời: “Chetvā naddhiṃ varattañca, icchā lobhañca pāpakaṃ; Samūlaṃ taṇhamabbuyha, evaṃ yātrā bhavissatī’’ti”: chỉ có bỏ tham ái mới hết khổ được.

Muốn hết khổ phải lìa bỏ danh sắc, muốn lìa bỏ danh sắc phải nhàm chán chúng và hành trì Tam học, đọc kỹ mấy dòng trên sẽ thấy ngay lý Tứ Đế. Trách nhiệm của người tu Phật là hiểu khổ đế, diệt tập đế, chứng diệt đế và hành đạo đế; đúng như bài kinh Chuyển Pháp Luân dạy: hiểu rốt ráo khổ đế, lìa bỏ được tập đế, chứng ngộ được diệt đế và hành trì đạo đế.

Tập đế tạo ra khổ đế, nhưng đạo đế dẫn đến diệt đế. Niết Bàn không do nhân nào tạo hết, cái gì do nhân tạo thì sẽ do nhân diệt mà Niết bàn thì không phải do nhân tạo. Muốn tiếp tục có khổ đế thì đầu tư tập đế. Đầu tư kiểu nào? Anh muốn khổ kiểu nào thì đầu tư kiểu ấy, muốn khổ kiểu Dục Giới thì đầu tư dục ái, muốn khổ kiểu Sắc Giới thì đầu tư sắc ái, muốn khổ kiểu Vô Sắc Giới thì đầu tư vô sắc ái, còn nếu không muốn khổ thì đừng đầu tư nữa.

[29] Khổ

Khổ trong kinh Phật nguyên thủy gồm 3 ý nghĩa:

1. Khổ khổ (dukkha dukkha): sự có mặt của những gì khiến ta khổ thân, khổ tâm. Người đời thường nói “nói đời là biển khổ” tức là loại khổ này.

2. Hoại khổ (viparināmadukkha): sự vắng mặt của những gì khiến ta hạnh phúc. Trưa nắng chang chang trời nắng quá là khổ khổ, cái quạt đang chạy bị cúp điện thì sự biến mất của mát mẻ cũng là cái khổ. Tại sao trong kinh nhắc đến khổ này, vì có những người sung sướng đến mức nghe nói cái khổ họ rất mơ hồ. Có người không hề biết là trên đời này có chuyện “muốn mà không được”. Trong kinh có ngài Anuruddha, ngài là người không hề biết chữ “không có”, bất cứ cái gì ngài cần là có, nếu không có thì có chư thiên giúp ngay. Có người suốt đời sung sướng từ lúc sinh ra đến khi lớn lên trong hoàn cảnh đầy đủ điều kiện, dung mạo đẹp đẽ, nên cái “khổ khổ” họ rất mơ hồ, nhưng chắc chắn là sẽ có “hoại khổ”, ví dụ, đói thì ăn thấy ngon, nhưng no rồi thì nặng nề, đó chính là hoại khổ; ngồi lâu cho dù ngồi ở trên du thuyền hay máy bay cũng mỏi, đó là hoại khổ.

3. Hành khổ (abhisankhāradukha): tất cả sự hiện hữu ở đời đều lệ thuộc các điều kiện nhân duyên mà có.

Sự lệ thuộc này là một cái khổ. 99% những người tôi gặp mặt kể cả Phật tử quan tâm cái khổ thứ ba này không nhiều. Quí vị đang ngồi trước máy nghe tôi nói chuyện được là nhờ vô số nhân duyên: răng không nhức, đầu không nhức, không đau bao tử, chồng con, ba má ông bà trong nhà không làm phiền quí vị, trong nhà không có mùi lạ, everything ok thì mới có thể ngồi nghe. Các vị có quyền nghèo khó, có quyền giàu có việc đó tôi không chịu trách nhiệm nhưng các vị phải lệ thuộc nhiều điều kiện giống nhau mới có mặt trên trái đất này và bây giờ ngồi yên trước máy giờ này lắng nghe tôi nói chuyện. Sự lệ thuộc đó gọi là hành khổ

Bài kệ có thể diễn dịch lại như thế này, vị này hỏi Đức Phật:

“kathaṃ yātrā bhavissatī”: Con phải đi về đâu với một cuộc hiện hữu buồn như thế?

Catucakkaṃ navadvāraṃ, 4 bánh xe và chín cái cửa

puṇṇaṃ lobhena saṃyutaṃ; Bên trong đầy ắp những tham

Paṅkajātaṃ mahāvīra, Sống nhơ bẩn như đẻ ra trong bùn

kathaṃ yātrā bhavissatī’’ti. Con biết đi đâu về đâu với một hiện hữu buồn như thế (thưa Đấng đại hùng)

Đức Phật trả lời: Hãy bỏ hết đi con, nhổ lên cội rễ tham ái thì hiện hữu buồn đó không còn nữa, hãy lấy xăng ra khỏi xe, tháo bánh xe ra khỏi xe, đừng đi nữa.

Trong Tăng Chi Bộ kinh có bài kinh Đức Phật nói như thế này: Chúng sinh phàm phu giống như một con thuyền mới còn chạy tốt và được duy tu bảo dưỡng thường xuyên, trong khi đó vị thánh hữu học giống như một con tàu bị kéo lên bờ, vị thánh A-la-hán giống như con tàu đã mục nát chỉ chờ thành bụi. Mỹ có câu danh ngôn thế này:“Thuyền đậu ở bến thì an toàn, nhưng sự an toàn đó không phải là lý do để người ta đóng thuyền.”(A ship in harbor is safe, but that is not what ships are built for – J. A. Shedd). Trong dòng sinh tử luân hồi còn tham sân si, chúng ta còn đầu tư xây dựng sự hiện hữu của mình, nhưng một ngày nào đó mệt mỏi quá thì luân hồi chỉ là sự lặp lại tẻ nhạt vô vị và buồn chán. Triết gia Pháp, Jean Paul Sartre, ông này có suy nghĩ rất giống Phật Giáo và nói rằng cuộc sống này đáng buồn nôn, chỉ là sự lặp lại tẻ nhạt. (Tác phẩm La Nausée/The Nausea). Do nghiệp dục giới mình sanh làm người cõi dục, bị nóng bị lạnh nên mình mới có nhà cửa ăn mặc, vì bị đói khát nên mới ăn uống. Và phải đói khát nên ăn uống mới ngon miệng, cứ như thế lặp lại hết đời này sang đời khác, đến một kiếp sống nào đó, do nhân duyên điều kiện đặc biệt nào đó, do môi trường bối cảnh nào đó chúng ta tu thiền Sắc Giới, chúng ta về các Phạm cung ở trên đó, không còn thích thú trong năm trần nữa, chỉ biết hành thiền và sống trong hỷ lạc, hết tuổi trời quay trở lại xuống nhân gian tiếp tục “con đường xưa em đi” như “những ngày xưa thân ái” vậy, vẫn tiếp tục lặp đi lặp lại. Saṅsāra, là sự trùng phục, tái hiện, tái diễn, lặp đi lặp lại. Vì tập khí trầm luân khiến cho mình chấp nhận, vì nghiệp dục giới nên phải mang thân nhân loại ở cõi Dục, (Cõi Dục Thiên thì hiếm lắm), làm con trùn con dế, thích thú với điều kiện môi trường của con trùn con dế, càng thích thú thì càng ghim sâu gắn chặt vào môi trường đó. Thấy nó ngọt ngào là vì do khuynh hướng tâm lý và điều kiện sống buộc phải thích điều đó. Một anh ăn mày vẫn có bữa cơm tối rất ngon, anh ta trải tờ báo làm cái bàn, chỗ ngồi dù có ruồi muỗi hay mưa bay lất phất nhưng anh ta vẫn thấy ngon vì anh ta đã xác định rõ mình là ăn mày, không đòi hỏi gì nhiều, lại đang đói, thức ăn đang ấm nóng, cứ thế anh ta ăn rất ngon và với niềm vui đó anh ta tiếp tục làm ăn mày. Đồng Đức Bốn có câu thơ:

Đang trưa ăn mày vào chùa

Sư ra cho một lá bùa rồi đi

Lá bùa chẳng biết làm gì

Ăn mày nhét túi lại đi ăn mày!

Câu thơ này đối với tôi rất là sâu sắc. Ý nghĩa sâu sắc ở chỗ mình khổ quá, mình đi tìm đến Phật, Phật dạy cho mình đủ điều nhưng khổ thay lời Phật dạy không vừa với tạng phủ, không vừa với căn cơ trời ơi của mình. Thế là sau khi nghe pháp Phật xong mình vẫn tiếp tục vùi sâu cắm chặt vào cõi trầm luân khổ ải của mình. Khổ quá con tìm về với Phật mà lời kinh Phật không cứu được con thôi con tiếp tục đi ăn mày vậy. Nếu mình có một cái nhìn nặng về Phật chất thì nhìn đâu cũng thấy Phật pháp hết, cái gì cũng có thể học được nhiều điều hay.

Những bài giảng này được lưu trữ dưới dạng âm thanh trên internet ở địa chỉ sau đây: www.vietheravada.net; bản kinh Pāḷi và Sớ giải từ địa chỉ www.tipitaka.org.
Các bài viết trong sách

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *